Mục tiêu của Trung Quốc
Tuyên bố chiến tranh của bọn bành
trướng Trung Quốc nói rằng đây là cuộc chiến để quân Trung Quốc "phản kích
tự vệ" chống lại các khiêu khích của Việt Nam. Phát ngôn viên của Tân Hoa
xã nói: "Các lực lượng biên phòng Trung Quốc đã hành động khi tình hình
trở nên không thể chấp nhận được và không còn lựa chọn nào khác. Chúng tôi
không muốn một tấc đất nào của Việt Nam. Cái chúng tôi muốn là một đường biên
giới ổn định và hòa bình." Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, Trung Quốc
muốn đánh, xem tình hình thế nào, nếu chiếm được thủ đô Hà Nội thì sẽ chiếm
đóng lâu dài ở miền Bắc VN, và trước đó họ đã dự tính trước khả năng này nên đã
thủ sẵn con bài Hoàng Văn Hoan và các chiêu bài chính trị, những con bài chính
trị cần thiết. Và thực tế sau này đã cho thấy họ có tham vọng đất đai, do đó
những gì mà họ tuyên bố, tuyên truyền, chỉ là dối trá.
Trước cuộc xâm lược, tướng Dương Đắc
Chí còn hung hăng nói với thuộc cấp và binh lính: Chúng ta sẽ ăn Phở ở Hà Nội.
Và nếu muốn thì chúng ta cũng thừa sức ăn Phở ở Hà Nội buổi sáng, ở Huế buổi
trưa, và Thành phố Hồ Chí Minh buổi chiều... Điều này càng cho thấy tham vọng
của bọn phản động Trung Quốc.
Nhiều nhà sử học phương Tây cho rằng
cuộc chiến có những mục đích không rõ ràng do bọn bá quyền phương Bắc giấu kín,
chỉ tuyên bố, tuyên truyền những lời hay ý đẹp để giải thích cho dư luận trong
nước, trấn an dư luận quốc tế, và để cho phía VN bị hoang mang không rõ ràng.
Trong đó, theo họ, việc dễ thấy nhất là Trung Quốc muốn cứu nguy Khmer Đỏ, là
một trong những chế độ độc tài tàn bạo nhất của thế kỷ 20.
Theo nhà nghiên cứu, chuyên gia quân
sự, giáo sư người Úc Carl Thayer trên BBC, trong mắt Trung Quốc, Hà Nội đã
"quên ơn" Bắc Kinh: Sau khi được giúp đỡ trong 2 cuộc chiến chống
Pháp và chống Mỹ thì quay sang bạc đãi cộng đồng người Hoa, quan hệ nồng ấm với
Liên Xô mà khi đó Trung Quốc coi là kẻ thù, rồi lại tấn công quân sự lật đổ
đồng minh Khmer Đỏ của Bắc Kinh. Bọn phản động phương Bắc không chinh phạt Việt
Nam thì danh dự, quốc thể, thương hiệu, uy thế của Trung Quốc sẽ bị ảnh hưởng
không tốt, gần như họ sa vào cái thế phải đánh, không đánh không xong. Bọn bành
trướng phương Bắc mở cuộc nam chinh, xua quân vào phương Nam là vì Việt Nam
"dám" thách thức uy quyền, tầm vóc, vị thế, địa vị, và tầm ảnh hưởng
của Trung Quốc trên bán đảo Đông Dương nói riêng và châu Á nói chung. Bên cạnh
việc xâm lấn Việt Nam để "bình định vùng biên giới" sau nhiều năm
căng thẳng với các xung đột ngày càng nhiều, ngày càng lớn, bọn họ phải hành
động để chứng tỏ uy tín của mình trong việc bảo vệ đồng minh Khmer Đỏ, và để
chứng minh họ không thua Liên Xô.
Theo Trung tướng Lưu Á Châu của Quân
Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, Chính ủy Đại học Quốc phòng Trung Quốc, giáo sư
thỉnh giảng của Đại học Stanford ở Mỹ, mà dịch giả Vũ Hồng Ngự và Nguyễn Hải
Hoành dịch lại một số bài viết, bài nói của ông và đăng trên Tuần Việt Nam và
tạp chí Hồn Việt, thì: "Cuộc chiến này của đồng chí Đặng Tiểu Bình là đánh
để hai người xem, một là Đảng Cộng sản Trung Quốc, hai là người Mỹ." và:
"Vừa rồi, tôi nói gây ra cuộc chiến tranh này vì người Mỹ, chính là trả
hận cho người Mỹ. Có bằng chứng không? Có đấy. Ngày hôm trước rời Nhà Trắng thì
ngày hôm sau, Đặng Tiểu Bình bắt đầu đánh Việt Nam. Vì sao có thể giúp Mỹ hả
giận? Bởi vì, người Mỹ vừa tháo chạy nhục nhã khỏi Việt Nam. Chúng ta sao lại
giúp người Mỹ hả giận? Thực ra không phải vì Mỹ, mà là vì chúng ta, vì cải cách
mở cửa. Trung Quốc không thể cải cách mở cửa mà không có viện trợ của các nước
phương Tây, đứng đầu là Mỹ. Nhờ cuộc chiến này, Mỹ đã ồ ạt viện trợ kinh tế, kỹ
thuật, khoa học kỹ thuật và cả viện trợ quân sự, tiền vốn cho Trung Quốc...
Cuộc chiến này đem lại cho Trung Quốc những gì? Đó là một lượng lớn thời gian,
tiền bạc và kỹ thuật. Nhờ những yếu tố này, Trung Quốc tiếp tục đứng vững sau
khi Liên Xô sụp đổ. Đây là thành công vĩ đại. Thậm chí có thể nói, bước đi đầu
tiên của cải cách mở cửa Trung Quốc chính là từ cuộc chiến tranh này."
Đối với Việt Nam, cuộc chiến là một
phần trong kế hoạch bành trướng, Nam xâm của bọn bá quyền phương Bắc, noi gương
bọn phong kiến phương Bắc. Theo phân tích của giới quân sự và các chuyên gia
Việt Nam, mục tiêu chính của Trung Quốc trong hành động quân sự lần này gồm:
- Nhanh chóng chiếm đóng vùng biên
giới Việt - Trung, đặc biệt là các thị xã trọng yếu gồm Lạng Sơn (chốt chặn nối
Quốc lộ 1A của Việt Nam với Trung Quốc), Cao Bằng và Lào Cai. Vùng chiếm đóng
dự kiến với bề sâu chừng vài chục km sẽ được Trung Quốc sử dụng làm bàn đạp cho
các cuộc tấn công vào sâu nội địa Việt Nam.
- Tiêu hao lực lượng chủ lực và làm
suy yếu khả năng phòng ngự phía Việt Nam bằng việc quét sạch các đồn biên
phòng, tiêu diệt một phần lực lượng quân địa phương và các đơn vị võ trang độc
lập khác của Việt Nam.
- Hủy diệt cơ sở hạ tầng và nền kinh
tế ở các vùng chiếm đóng để đưa nền kinh tế Việt Nam tới chỗ kiệt quệ, sụp đổ.
Tương quan lực lượng
tham chiến
Để tấn công Việt Nam, Trung Quốc sử
dụng 9 Quân đoàn chủ lực và 32 sư đoàn bộ binh, 6 trung đoàn xe tăng, 4 sư đoàn
và nhiều trung đoàn pháo binh, phòng không. Lực lượng được huy động khoảng trên
40 vạn binh sĩ, 550 xe tăng, 480 khẩu pháo, 1.260 súng cối và dàn tên lửa, chưa
kể hơn 200 tàu chiến của hạm đội Nam Hải và 1.700 máy bay sẵn sàng phía sau.
Quân đội nam chinh đặt dưới sự thống lĩnh của hai tướng Hứa Thế Hữu và Dương
Đắc Chí.
Tướng Hứa Thế Hữu, tư lệnh Đại Quân
khu Quảng Châu chỉ huy hướng tiến công vào vùng Đông Bắc Việt Nam với trọng điểm
là Lạng Sơn và Cao Bằng. Tướng Dương Đắc Chí, tư lệnh Đại Quân khu Côn Minh đảm
nhiệm hướng Tây Bắc với trọng điểm là Hoàng Liên Sơn (nay là Lào Cai). Đây là
đợt huy động quân sự lớn nhất của Trung Quốc kể từ chiến tranh Triều
Tiên.
Ngoài lực lượng quân chính quy, Trung
Quốc còn huy động hàng chục vạn dân công và lực lượng dân binh ở các tỉnh biên
giới để tải đồ tiếp tế, phục vụ, tải thương, hỗ trợ quân chính quy, phục vụ cho
chiến dịch xâm lược. Tại Quảng Tây đã có đến 21 vạn dân phu được huy động. Về phân
phối lực lượng của Trung Quốc: Hướng Lạng Sơn có Quân đoàn 43, 54, 55; hướng
Cao Bằng có Quân đoàn 41, 42, 50; hướng Hoàng Liên Sơn có Quân đoàn 13, 14;
hướng Lai Châu có Quân đoàn 11; hướng Quảng Ninh, Hà Tuyên (nay là Hà Giang)
mỗi nơi cũng có từ 1 đến 2 sư đoàn. Tổng số khoảng 60-65 vạn người.
Về phía Việt Nam, do phần lớn các Quân
đoàn chính quy (3 trong số 4 Quân đoàn) đang chiến đấu ở Campuchia hoặc đóng ở
miền Nam Việt Nam đề phòng Mỹ quay lại, tàn quân ngụy nổi loạn, sự phá hoại của
bọn khủng bố "Mặt trận Hoàng Cơ Minh" (tiền thân của tổ chức khủng bố
Việt Tân), và để tiếp ứng cho quân đội ta ở Campuchia, đặt trọng tâm vào chiến
cuộc phía Nam, nên phòng thủ ở biên giới với Trung Quốc chỉ có một số sư đoàn
chủ lực quân khu (chủ yếu là tân binh) của Quân khu I và II cùng các đơn vị bộ
đội biên phòng, bộ đội địa phương tỉnh, huyện, công an vũ trang (biên phòng),
công an xung phong, du kích xã và dân quân - tự vệ.
Lực lượng thiện chiến nhất của Việt
Nam đóng ở biên giới Việt - Trung là Sư đoàn 3 (vốn là sư đoàn có truyền thống
hào hùng, lập nhiều chiến công, thành tích trong kháng chiến chống Mỹ, từng
trải qua trăm trận, có kinh nghiệm và năng lực chiến đấu cao, được điều động từ
miền Nam lên đóng tại Lạng Sơn để đề phòng bọn bá quyền) và sư đoàn 316A (đóng
tại Sa Pa), ngoài ra còn có các sư đoàn 346 ở Cao Bằng, 325B ở Quảng Ninh, 345
ở Lào Cai, 326 ở Phong Thổ, Lai Châu.
Sư đoàn 346 đóng tại Cao Bằng nhiều
năm chủ yếu làm nhiệm vụ kinh tế, thời gian huấn luyện sẵn sàng chiến đấu trở
lại chưa nhiều. Lực lượng biên giới có khoảng 7 vạn quân, về sau được hai sư
đoàn (327 và 337) từ tuyến sau lên Lạng Sơn tiếp viện. Lực lượng độc lập gồm
các trung đoàn 141, 147, 148, 197, trung đoàn pháo binh 68, các trung đoàn quân
địa phương 95, 121, 192, 254 và 741. Quân đoàn 1 được xây dựng thành một phòng
tuyến, thành những hàng rào phòng thủ đóng quanh Hà Nội, bảo vệ thủ đô, ngăn
chận Trung Quốc tiến sâu vào vùng trung châu.
Ngày 27 tháng 2, Quân đoàn 2 là chủ
lực của Bộ quốc phòng được lệnh cơ động về để bảo vệ miền Bắc, đến ngày 5 tháng
3 bắt đầu triển khai trên hướng Lạng Sơn. Do 3 danh tướng Lê Đức Anh, Lê Khả
Phiêu, Lê Trọng Tấn đều chỉ huy ở Campuchia chống Khmer Đỏ nên chiến dịch chống
Trung Quốc lần này do 3 tướng Văn Tiến Dũng, Đàm Quang Trung, và Vũ Lập thống
lĩnh.
Xâm lăng Việt Nam từ
hai hướng
Suốt thời gian này, Trung Quốc dần
hiện nguyên hình, lộ chân tướng ngụy quân tử, đạo đức giả, từ chống Việt Nam
một cách giấu mặt đến chống công khai. Những mưu đồ chống phá đó đều hiểm độc
và đã gây khó khăn cho Việt Nam, nhưng cuối cùng đều thất bại, cho nên đầu năm
1979, Trung Quốc phải tính đến việc tấn công trực tiếp, xâm lược thẳng thừng
Việt Nam từ hai phía.
Phía Tây Nam, theo kế hoạch của Bắc
Kinh, sau khi tập trung khoảng 20 vạn quân ở sát biên giới Việt - Miên, ngày 22
tháng 12 năm 1978, Pol Pot đã sử dụng những sư đoàn tinh nhuệ, thiện chiến nhất
của họ, có xe tăng và pháo binh yểm trợ, đánh vào khu vực Bến Sỏi thuộc tỉnh
Tây Ninh (cách TPHCM 100 km), với ý đồ đánh chiếm chớp nhoáng thị xã Tây Ninh,
mở đường tiến sâu vào miền Nam Việt Nam, đồng thời làm suy yếu Việt Nam để quân
Trung Quốc đánh vào Việt Nam từ phía Bắc.
Việt Nam đã phản công mạnh mẽ và làm
thất bại hoàn toàn kế hoạch quân sự đó. Đồng thời, tiến quân đánh thẳng vào và
san bằng sào huyệt của giặc xâm lược, phá tan hang ổ của Pol Pot, lật đổ chế độ
Khmer Đỏ, cứu người dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, làm tròn nghĩa vụ
quốc tế, tận diệt mầm mống xâm lược, ổn định lại biên giới Việt Nam –
Campuchia, các tỉnh biên giới, và miền Nam VN, phá thế gọng kìm, thoát khỏi
tình trạng "lưỡng đầu thọ địch".
Phía Bắc, Trung Quốc huy động hơn 50
vạn quân, gồm nhiều Quân đoàn và sư đoàn, nhiều đơn vị binh chủng kỹ thuật với
gần 800 xe tăng, hàng ngàn khẩu pháo, hàng trăm máy bay các loại của hầu hết các
quân khu của Trung Quốc, phát động chiến tranh xâm lược tổng lực và toàn diện
vào Việt Nam ngày 17 tháng 2 năm 1979 trên toàn tuyến biên giới.
Để lừa gạt dư luận Trung Quốc và dư
luận thế giới, những người cầm quyền Bắc Kinh đã tuyên bố rằng đấy chỉ là một
cuộc “phản kích tự vệ”, một cuộc "Chiến tranh đánh trả tự vệ trước Việt
Nam" (对越自卫还击战, Đối Việt tự vệ hoàn kích chiến) bằng
những đơn vị biên phòng, nhiều tài liệu quốc tế đã cho thấy là có ít nhất 50
vạn quân, tài liệu của một số nước châu Âu như Tây Ban Nha, Hà Lan, Bồ Đào Nha
và tài liệu của Liên Xô cũ và Nga ngày nay đều cho thấy là có từ 50 đến 60 vạn
quân, nhưng trong tài liệu của Trung Quốc thì chỉ còn "20 vạn quân".
Sự thật đây là một cuộc chiến tranh
xâm lược toàn diện bằng quân lực chính quy, bằng lực lượng chủ lực có tuyển
chọn, tinh nhuệ, thiện chiến nhất từ hầu hết các quân khu của Trung Quốc, nhiều
tướng lĩnh, sĩ quan có kinh nghiệm chiến đấu trong nội chiến Trung Quốc chống
quân Quốc dân đảng và chiến tranh Triều Tiên chống liên quân Liên Hiệp Quốc do
Mỹ cầm đầu. Ngoài ra có nhiều lão thành quân sự đã từng trải trong cuộc chiến
tranh Trung - Nhật chống phát xít, chống Tưởng Giới Thạch, chống quân phiệt,
từng thân chinh bách chiến, thân trải trăm trận vào sinh ra tử trên các chiến
trường Đại Lục và Triều Tiên, chống với nhiều quân đội khác nhau, trong đó có
những người nguyên là thuộc cấp dưới trướng của danh tướng Bành Đức Hoài trước
đây, cũng tham gia với vai trò cố vấn quân sự.
Đây là một cuộc chiến tranh xâm lược
được chuẩn bị chu đáo, kỹ lưỡng, tỉ mỉ về các mặt, từ việc xây dựng những công
trình quân sự, đường xá, hầm hào, sân bay dọc biên giới Việt – Trung đến việc
vu cáo Việt Nam, phá hoại tình hữu nghị Việt – Trung, kích động tư tưởng đại
dân tộc, tinh thần Đại Hán trong nhân dân Trung Quốc hòng biện bạch và che giấu
hành động xâm lược. Về mặt đối ngoại, họ cũng chuẩn bị chu đáo, đặc biệt là họ
đã phát động cuộc chiến tranh xâm lược sau khi Phó thủ tướng Đặng Tiểu Bình đi
thăm Mỹ về, thực tế là sau khi tranh thủ được sự đồng tình của Mỹ và Nhật, một
đàn em thân cận của Mỹ.
Tướng Diệp Kiếm Anh của QGPNDTQ lúc đó
vốn đang tranh giành quyền lực và có nhiều bất bình, bất đồng chính kiến với
Đặng Tiểu Bình và chính sách cải cách, đã nói: Diệu võ dương oai đánh Việt Nam
thì được gì? Không khác gì Gia Cát Lượng Bắc phạt Tư Mã Ý, đánh vào nơi nào và
làm sao đánh thắng được? Chúng ta không thể đánh thắng một đội quân lưu động
trong nhà của họ. Mỹ muốn báo thù Việt Nam bằng máu Trung Quốc. Không được dùng
máu của người Trung Quốc để phục hận cho người Mỹ... Rất tiếc Đặng Tiểu Bình và
đồng bọn hiếu chiến, hiếu thắng đã không nhận ra điều này và bỏ ngoài tai những
lời can gián trung thực, ngay thẳng.
Hai cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam
mà Trung Quốc gây ra từ hai hướng là bước leo thang cao nhất trong cả một quá
trình hành động tội ác chống lại sự độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn
lãnh thổ của Việt Nam từ trước đến nay nhằm làm yếu, thôn tính và khuất phục
Việt Nam. Trái với mọi tính toán của Bắc Kinh, cuộc chiến tranh xâm lược của họ
đã thất bại thảm hại, đã bị toàn thế giới (trừ Mỹ và các đồng minh thân cận)
lên án và một bộ phận nhân dân Trung Quốc phản đối. Ngày 5 tháng 3 năm 1979, do
bị tổn thất, thiệt hại, thương vong nặng nề, không còn đủ sức duy trì cuộc
chiến, và nhìn thấy nhiều đơn vị khác của Việt Nam từ Campuchia quay về, từ
miền Nam trùng trùng điệp điệp kéo ra Bắc, họ đành phải lui quân kịp thời trước
khi quân bổ sung của Việt Nam tới nơi.
Dùng đàn em Khmer Đỏ
xâm lấn từ phía Tây Nam
Sau cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt
Nam, Trung Quốc và Khmer Đỏ ngày càng hiện rõ chân tướng, lộ diện chân dung,
bộc lộ bản chất đón gió trở cờ và bộ mặt thật của mình, càng lúc càng dấn thân
vào con đường phản bội phong trào giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và
giải phóng con người trên thế giới, câu kết với Hoa Kỳ và chủ nghĩa đế quốc,
trở mặt với Việt Nam, Liên Xô, và cả Cuba. Trong thời gian đó Đặng Tiểu Bình và
truyền thông Trung Quốc liên tục chửi bới Cuba là "tay sai của Điện Cẩm
Linh" là "một Việt Nam mới của châu Mỹ", "tiểu bá châu
Mỹ" v.v. Hai thầy trò Đặng Tiểu Bình - Pol Pot lúc đó không dám nói động
đến Hoa Kỳ, nhưng lại liên tục chửi bới Việt Nam, Liên Xô, Cuba và ép cả Bắc
Triều Tiên cùng đứng về chiến tuyến của họ, đồng thanh chửi bới và tuyên truyền
xuyên tạc. Áp lực Bắc Triều Tiên phái cố vấn quân sự, một số quân lính vào
Campuchia và viện trợ một số vũ khí cho Khmer Đỏ.
Tranh chấp và xung đột biên giới phía
Bắc và phía Nam xảy ra liên tục trong các năm 1977 và 1978, nhưng cuộc xung đột
quân sự thực ra đã bắt đầu ngay sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng. Ngày 4
tháng 5 năm 1975, một toán quân Khmer Đỏ đã đột kích đảo Phú Quốc; 6 ngày sau,
quân Khmer Đỏ xâm chiếm, thảm sát và hành quyết hơn 500 dân thường ở đảo Thổ
Chu.
Căm giận, phẫn nộ trước hành vi xâm
lấn tàn ác của Khmer Đỏ, quân ta đã phản công và nhanh chóng tái chiếm các đảo
này. Trận Phú Quốc làm quan hệ Việt Nam - Trung Quốc và tình hình khu vực vốn
đang rất tồi tệ lại càng xấu đi. Mặt nạ của Trung Quốc đã hoàn toàn rơi xuống,
mặt thật của họ đã hoàn toàn phơi bày với sự hiện diện của cố vấn Trung Quốc
trong những đội quân Khmer Đỏ xâm lược và có rất nhiều trong nội địa Campuchia,
và sự tăng cường viện trợ kinh tế và quân sự cho lực lượng khủng bố Khmer Đỏ.
Theo nhà sử học Ben Kiernan trong sách "The Pol Pot Regime: Race, Power,
and Genocide in Cambodia Under the Khmer Rouge", xuất bản năm 1996, thì
trong khoảng thời gian 1975 - 1977 Trung Quốc đã viện trợ cho Pol Pot 2 tàu
chiến tốc độ cao tải trọng 800 tấn, 4 tàu tuần tiễu, 200 xe tăng, 300 xe bọc
thép, 300 pháo, 6 máy bay tiêm kích, 2 máy bay ném bom, 1300 xe vận tải và
30.000 tấn đạn dược các loại.
Tiếp theo cuộc đột kích vào các đảo
Thổ Chu và Phú Quốc, bên cạnh nhiều cuộc đột kích nhỏ thì bọn khủng bố Khmer Đỏ
còn tiến hành 2 cuộc xâm lăng quy mô vào miền Nam Việt Nam. Cuộc tấn công lớn
đầu tiên diễn ra vào tháng 4 năm 1977, quân chủ lực Khmer Đỏ tiến sâu 10 km vào
lãnh thổ Việt Nam, chiếm một số vùng ở tỉnh An Giang và tàn sát một số lớn dân
thường. Cuộc tấn công thứ hai diễn ra vào ngày 25 tháng 9 cùng năm. Lần này, 4
sư đoàn Khmer Đỏ đánh chiếm nhiều điểm ở các huyện Tân Biên, Bến Cầu, Châu
Thành (tỉnh Tây Ninh), đốt phá 471 ngôi nhà, làm gần 800 người dân bị giết, bị
thương hoặc mất tích.
Ngày 31 tháng 12 năm 1977, 6 sư đoàn
Quân đội Nhân dân Việt Nam đánh sâu vào đất Campuchia đến tận Neak Luong rồi
mới rút lui từ ngày 5 tháng 1 năm 1978, giải cứu một số nhân vật lãnh đạo quan
trọng của Campuchia, trong đó có đồng chí Hun Sen. Đây là một cuộc phản công
khá lớn, mang tính chất trừng phạt, cảnh cáo, răn đe đối với Khmer Đỏ. Việt Nam
đề nghị một giải pháp ngoại giao nhằm thiết lập một vùng phi quân sự dọc biên
giới, nhưng Pol Pot gạt đi, và điên loạn chống Việt Nam tiếp tục.
Ngày 1 tháng 2 năm 1978, Trung ương
Khmer Đỏ họp bàn chủ trương chống Việt Nam triệt để, chống VN toàn diện, và
quyết định thành lập 15 sư đoàn. Pol Pot ra Nghị quyết: "Chỉ cần mỗi ngày
diệt vài chục, mỗi tháng diệt vài ngàn, mỗi năm diệt vài ba vạn thì có thể đánh
10, 15, đến 20 năm. Thực hiện 1 diệt 30, hy sinh 2 triệu người Campuchia để
tiêu diệt 50 triệu người Việt Nam". Pol Pot đã điều 13 trong số 17 sư đoàn
chủ lực và một số trung đoàn địa phương liên tục tấn công vào lãnh thổ Việt
Nam, có nơi vào sâu tới 15-20 km. Trong các đợt tấn công đó, Khmer Đỏ đã gây ra
nhiều cuộc thảm sát đối với người Việt Nam, một ví dụ là vụ thảm sát Ba Chúc
vào tháng 4 năm 1978 với 3157 dân thường bị giết hại. Điều này cho thấy đôi
thầy trò Trung Quốc - Khmer Đỏ đã lộ ra bộ mặt phát xít dã man tàn bạo, vô nhân
đạo, mất tính người, "noi gương" và nối nghiệp Đức Quốc Xã của
Hitler. Với một chính sách phân biệt chủng tộc, bài Việt Nam, kỳ thị và tẩy
chay người Việt, và đại diệt chủng, những cái gọi là "nghị quyết",
"chính sách", cách làm, hành vi, hành động của họ rất quái đản và
mang tính chất bệnh hoạn, biến thái.
Ngày 13 tháng 12 năm 1978, Khmer Đỏ
huy động 10 trong 19 sư đoàn tấn công, xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên
giới. Ba sư đoàn đánh vào Bến Sỏi với mục tiêu chiếm thị xã Tây Ninh, 2 sư đoàn
đánh vào Hồng Ngự, 2 sư đoàn đánh khu vực Bảy Núi, 1 sư đoàn đánh Trà Phô, Trà
Tiến thuộc tỉnh Kiên Giang. Quân đội Việt Nam đã chống trả quyết liệt và đã kìm
chân bước tiến, đồng thời làm tiêu hao sinh lực của giặc. Các hướng tiến quân
của bọn khủng bố bị chặn lại và không thể phát triển được. Ngoại trừ Hà Tiên bị
chiếm giữ trong thời gian ngắn, không một thị xã nào của Việt Nam bị chiếm
được. Theo Tạp chí Time, Không quân Nhân dân Việt Nam đã tiến hành những cuộc
không kích và lực lượng bộ binh giao tranh trên bộ, đánh vào các đơn vị quân
Khmer Đỏ dọc biên giới nhằm làm suy yếu quân Khmer Đỏ trước khi quân Việt Nam
bắt đầu chiến dịch phản công thì đã tiêu diệt khoảng gần 2 vạn quân Khmer Đỏ.

Dùng đại quân trực
tiếp xâm lược từ phía Bắc
Giai đoạn chuẩn bị:
Từ tháng 10 năm 1978 cho đến 15 tháng
2 năm 1979, Trung Quốc cho quân báo, thám báo, trinh sát, và cả một số điệp
viên Hoa Nam Cục dò thám và thực hiện nhiều cuộc tấn công thăm dò vào các vị
trí phòng thủ của Việt Nam nơi biên ải, với mục đích thu thập thông tin (địa
hình, trận thế, chiến hào, công sự phòng ngự, địa điểm đóng quân, hệ thống
phòng thủ, vũ khí, khí cụ, kỹ năng tác chiến cá nhân, sức chiến đấu tập thể của
lực lượng biên phòng VN), đe dọa tâm lý và tinh thần quân lính Việt Nam, và
đánh lạc hướng khỏi mục tiêu chính của chiến dịch sắp tới.
Những cuộc tấn công nhỏ, lẻ này tăng
dần về quy mô và tần số khi lực lượng Trung Quốc tập trung tại biên giới ngày
càng đông. Trung Quốc cắt đứt tuyến đường sắt Hữu Nghị nối liền hai nước vào
ngày 22 tháng 12 năm 1978. Đến cuối tháng 1 năm 1979, gần 20 sư đoàn chính quy
Trung Quốc (trên dưới 25 vạn quân), đã tập trung gần biên giới giáp ranh Việt
Nam. Hơn 700 máy bay chiến đấu và máy bay ném bom - 1/5 lực lượng không quân
Trung Quốc - đã được đưa đến các sân bay gần biên giới, phối hợp với các lực
lượng lục quân, chuẩn bị một chiến dịch tấn công tổng lực, đại quy mô, xâm lược
trực diện, xâm lược toàn diện. Các động thái leo thang này của Trung Quốc đã bị
Việt Nam - với tư cách là 1 thành viên trong Liên Hiệp Quốc - lên án quyết liệt
tại cuộc họp của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc ngày 11 tháng 2 năm 1979.
Ngày 7 tháng 2, Bắc Kinh đưa ra thông
cáo chính thức của chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa phản đối việc quân đội
Việt Nam tiến đánh Khmer Đỏ và đề nghị quốc tế "dùng mọi biện pháp có thể
để chấm dứt cuộc xâm lược dã man này". Về mặt ngoại giao, sau khi bang
giao với Hoa Kỳ từ tháng 12 năm 1978, trong chuyến thăm Washington từ 28 đến 30
tháng 1, Đặng Tiểu Bình nhận được sự ủng hộ cần thiết của đồng minh mới Hoa Kỳ
trong kế hoạch tấn công Việt Nam.
Ngày 15 tháng 2 năm 1979, nhân dịp 29
năm hiệp ước Trung - Xô về vấn đề Mông Cổ và thời điểm kết thúc chính thức Hiệp
ước hợp tác Trung - Xô, Các Đại biểu Nhân dân (Quốc hội) Trung Quốc tuyên bố
chiến tranh với Việt Nam. Để cảnh cáo Liên Xô và cũng nhằm đề phòng bị Liên Xô
thừa cơ xâm phạm biên giới, Trung Quốc đặt toàn bộ quân đội đóng dọc biên giới
Trung - Xô vào tình trạng báo động, đồng thời thiết lập một sở chỉ huy quân đội
mới ở Tân Cương và di tản trên dưới 300.000 dân khỏi vùng biên giới giáp Liên
Xô.
Để đối phó lại việc Trung Quốc tập
trung đại quân và vũ khí hạng nặng tại biên giới, cũng như việc các cuộc đột
kích vũ trang ngày càng gia tăng, Việt Nam tiến hành chuẩn bị công cuộc phòng
thủ, chuẩn bị các vị trí phòng ngự, làm công tác tư tưởng chuẩn bị tinh thần
cho chiến sĩ, đồng bào, sẵn sàng một khi chiến tranh xảy ra. Một số đơn vị quân
đội ở miền Nam VN được lệnh chuẩn bị ra Bắc. Một số đơn vị quân đội đang ở
Campuchia được lệnh chuẩn bị tinh thần để khi có lệnh thì lập tức quay về bảo
vệ đất nước.
Do nhiều đơn vị chủ lực đều kẹt ở xa,
quân đội chủ lực vẫn đang ở Campuchia đối phó với lực lượng tàn dư du kích
Khmer Đỏ. Các lực lượng chủ lực ở miền Nam Việt Nam thì có đơn vị chưa xuất
phát, có đơn vị chỉ đang trên đường Bắc tiến, nên lực lượng Việt Nam đương đầu
với những cuộc tấn công đầu tiên của Trung Quốc chủ yếu là dân quân, tự vệ, tân
binh, nữ binh, bạch đầu quân (lão binh), du kích địa phương, công an xung
phong, lính biên phòng, và bộ đội địa phương.
Từ vài tháng trước khi chiến tranh nổ
ra, Việt Nam đã lường trước và có những sự chuẩn bị, cảnh giác đáng kể, do đó
đã tiến hành huấn luyện và trang bị vũ khí hạng nhẹ cho dân quân - tự vệ, dân
phòng, lực lượng du kích xã ở các tỉnh biên giới. Tuy nhiên, do bị thiếu quân,
lại không ngờ Trung Quốc lại tấn công tổng lực bằng đại quân hùng hậu với lực
lượng lớn như thế, với số lượng quân sĩ như thế, với tầm mức như thế, nên Việt
Nam chỉ có một số đơn vị quân chủ lực tham gia chiến trận, nhất là các đơn vị
phòng thủ Lạng Sơn, nhưng ngay cả tại đây, lực lượng chủ yếu vẫn là dân quân tự
vệ và quân địa phương. Việt Nam giữ 5 sư đoàn chủ lực ở tuyến sau, phòng tuyến
thứ hai, án ngữ đề phòng Trung Quốc tiến sâu về đồng bằng, hình thành một lớp
phòng ngự đầu tiên bảo vệ thủ đô.

Giai đoạn 1:
5 giờ sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979,
lực lượng Trung Quốc khoảng 12 vạn quân bắt đầu tiến vào Việt Nam trên toàn
tuyến biên giới, mở đầu là pháo binh, tiếp theo là xe tăng và bộ binh. Cánh
phía Đông có sở chỉ huy tiền phương đặt tại Nam Ninh và mục tiêu chính là Lạng
Sơn.
Có hai hướng tiến song song, hướng thứ
nhất do Quân đoàn 42A dẫn đầu từ Long Châu đánh vào Đồng Đăng nhằm làm bàn đạp
đánh Lạng Sơn, hướng thứ hai do Quân đoàn 41A dẫn đầu từ Tĩnh Tây và Long Châu
tiến vào Cao Bằng và Đông Khê.
Ngoài ra còn có Quân đoàn 55A tiến từ
Phòng Thành vào Móng Cái. Cánh phía Tây có sở chỉ huy tiền phương đặt tại Mông
Tự, có 3 hướng tiến công chính: Hướng thứ nhất do các Quân đoàn 13A và 11A dẫn
đầu đánh từ vào thị xã Lào Cai. Hướng thứ hai từ Văn Sơn đánh vào Hà Giang.
Hướng thứ 3 do sư đoàn 42D của Quân đoàn 14A dẫn đầu đánh từ Kim Bình vào Lai
Châu.
Trung Quốc tấn công vào tổng cộng 26
địa điểm của Việt Nam, những khu vực bị tấn công dữ dội nhất từ đợt tấn công
đầu tiên này là Lào Cai, Mường Khương, Cao Bằng, Lạng Sơn và Móng Cái. Tất cả
các hướng tấn công đều có hàng hàng lớp lớp xe tăng, pháo binh hỗ trợ. Quân
Trung Quốc vừa chiếm ưu thế về lực lượng, vừa chủ động về thời gian tiến công,
lại còn có "lực lượng thứ 5" gồm một bộ phận Hoa kiều và người Việt
gốc Hoa cài cắm từ lâu trên đất Việt Nam. Tuy nhiên, cũng có nhiều người Hoa,
người gốc Hoa, người Minh Hương đứng về phía VN, chống lại bọn gây chiến xâm
lược Bắc Kinh và chủ nghĩa bá quyền.
Từ đêm 16 tháng 2, các tổ thám báo
Trung Quốc đã mang theo bộc phá luồn sâu vào nội địa Việt Nam móc nối với
"lực lượng thứ 5" lập thành các toán vũ trang phục sẵn các ngã ba
đường, bờ suối, các cây cầu để ngăn chặn quân tiếp viện của Việt Nam từ phía
sau lên. Trước giờ nổ súng, các lực lượng này cũng bí mật cắt các đường dây
điện thoại để cô lập chỉ huy sư đoàn với các chốt, trận địa pháo. Cuộc chiến
tranh xâm lược này đã được hoạch định chu đáo và tỉ mỉ. Trung Quốc muốn đem
5000 năm truyền thống văn hóa vào cuộc chiến, đem từ Tôn Tử binh pháp của Tôn
Vũ, Long Trung quyết sách của Khổng Minh, Tam Quốc diễn nghĩa của La Quán
Trung, Luận trì cửu chiến của Mao Trạch Đông, đến những kinh nghiệm, bài học
xương máu trong Chiến tranh Trung - Nhật, Nội chiến Trung Quốc và Chiến tranh
Triều Tiên vào cuộc chiến, đem kinh nghiệm từ 5000 năm lịch sử vào trong cuộc
chiến.
Hùng hổ, hung hãn xua quân tấn công
khắp nơi, kéo quân đánh mạnh vào những trọng điểm phòng ngự, thế tiến quân như
chẻ tre trong thời gian đầu, nhưng quân Tàu nhanh chóng bị hụt hẫng và phải
chững lại, phải giảm tốc độ do gặp nhiều trở ngại về địa hình, phong thổ, khí
hậu. Họ gặp khó khăn vì địa lý rừng núi hiểm trở của Việt Nam, và chịu nhiều
bệnh tật từ thiên nhiên, vi khuẩn, điều mà hơn 30 vạn quân Pháp và gần 60 vạn
quân Mỹ đã nếm trải cách đây không lâu. Và hệ thống hậu cần lạc hậu của họ càng
làm cho địa lý hiểm trợ, kiên cố, thiên nhiên ưu đãi của VN càng phát huy tác
dụng.
Hệ thống phòng thủ của Việt Nam dọc
theo biên giới rất mạnh, với các hầm hào, hang động tại các điểm cao dọc biên
giới do lực lượng quân sự có trang bị và huấn luyện tốt trấn giữ. Kết quả là
Trung Quốc phải chịu thương vong lớn. Trong ngày đầu của cuộc chiến, chiến
thuật dùng biển lửa (hỏa hải), biển người (nhân hải), và "tiền pháo hậu
xung" của giặc đã gây không ít khó khăn cho ta, họ tiến được vào sâu trong
lãnh thổ Việt Nam hơn 10 dặm và cướp phá một số thị trấn. Chiến sự ác liệt nhất
diễn ra tại các vùng Bát Xát, Mường Khương ở Tây Bắc và Đồng Đăng, cửa khẩu Hữu
Nghị, Thông Nông ở Đông Bắc. Quân Trung Quốc cũng đã vượt sông Hồng và đánh
mạnh về phía Lào Cai.
Việt Nam dùng chiến thuật phòng ngự
mềm dẻo, đánh tiêu hao, từng bước làm hao mòn sinh lực giặc, "cong nhưng
không gãy" (bend but don't break defense), phát huy cao độ nghệ thuật
chiến tranh du kích và hiệu quả chiến tranh nhân dân, tận dụng địa thế hiểm
trở, ưu thế về địa lợi, nhân hòa, phong thổ khắc nghiệt với quân thù, mà thường
xuyên tổ chức mai phục, đặt phục binh phục kích, đánh lén, đánh úp, đánh tập
hậu, tận dụng yếu tố bất ngờ, thoạt ẩn thoạt hiện v.v. Có nơi vừa đánh vừa lui
chiến thuật, nhử địch vào sâu, vào hiểm địa. Có nơi giữ được chút nào hay chút
nấy, cố gắng tiêu diệt sinh lực địch.
Từng bước dụ địch vào sâu, câu giờ,
hoãn binh, chờ các đơn vị chủ lực từ phía Nam quay về trợ chiến, cùng nhau tung
một mẻ lưới, phá giặc trong một trận quyết chiến chiến lược lớn và thừa thế mở
rộng tổng phản công, truy quét địch, với sức của 5 sư đoàn hàng rào sẽ đổi vai
trò từ thủ sang công, và với khí thế và sức mạnh của các đơn vị chính quy từ
phía Nam, sẽ phá tan giặc và đuổi giặc về nước. Đó là chiến lược cơ bản của
Việt Nam. Nhưng Trung Quốc cũng "đáo để", trong chiến cuộc họ đã nảy
sinh nghi ngờ nên họ liên tục tuyên truyền rằng đây là cuộc chiến tranh giới
hạn, chừa cho mình một con đường lui, chừa một cái thang để leo xuống, và khi
"đánh hơi" thấy gì không đúng thì sẽ rút lui ngay.
Trong hai ngày 18 và 19 tháng 2, chiến
sự lan rộng hơn. Quân ta kháng cự anh dũng và với tinh thần chiến đấu cao độ.
Quân giặc hầu như không thể sử dụng lực lượng ở mức sư đoàn mà phải dùng đội
hình nhỏ và thay đổi chiến thuật. Họ tiến chậm chạp, giành giật từng đường hầm,
từng điểm cao, và tiến vào Mường Khương, Trùng Khánh, và Đồng Đăng. Tại Móng
Cái, ta và địch giành giật dai dẳng. Ít nhất 4.000 lính Trung Quốc bỏ xác trong
hai ngày đầu này. Sau hai ngày chiến tranh, quân cướp nước đã vào được 11 làng
mạc và thị trấn sau khi bị chống trả ác liệt, nhưng họ cũng không thể sử dụng
được nhiều tài nguyên trong những vùng tạm chiếm, họ không thể “lấy chiến tranh
nuôi chiến tranh” vì gặp khó khăn trước mẹo "vườn không nhà trống"
của quân dân biên giới.
Quân Tàu dùng chiến thuật biển người
và tiền pháo hậu xung bao vây Đồng Đăng, thị trấn có vị trí then chốt trên
đường biên giới Trung - Việt. Trận chiến tại Đồng Đăng bắt đầu ngay từ ngày 17
và là trận ác liệt nhất. Đây là trận địa phòng thủ của Trung đoàn 12 Tây Sơn,
Sư đoàn 3 Sao Vàng đầy quân công chiến tích.
Tấn công vào Đồng Đăng là 2 sư đoàn bộ
binh, 1 trung đoàn xe tăng, và chi viện của 6 trung đoàn pháo binh Trung Quốc.
Cụm điểm tựa Thâm Mô, Pháo Đài, 339 tạo thế chân kiềng bảo vệ phía Tây Nam thị
xã Đồng Đăng, do lực lượng của 2 tiểu đoàn 4, 6, Trung đoàn 12 trấn giữ, bị
Trung Quốc bao vây và tấn công dồn dập ngay từ đầu với lực lượng cấp sư đoàn.
Đây là địa điểm then chốt nên lực lượng phòng thủ đã chiến đấu đến những người
cuối cùng, viện binh bị quân Trung Quốc dự liệu trước nên đã dàn quân khắp nơi
án ngữ, chăn chận.
Đồng Đăng trụ được cho đến ngày 22.
Ngày cuối cùng tại Pháo Đài, nơi có hệ thống phòng thủ kiên cố nhất, địch liên
tục bắc loa kêu gọi đầu hàng, hù dọa, dụ dỗ, nhưng quân ta kiên quyết chống trả
tới hơi thở cuối cùng, giọt máu cuối cùng. Quân Trung Quốc chở bộc phá tới đánh
sập cửa chính, dùng súng phun lửa, thả lựu đạn, dùng vũ khí hóa học thu được từ
phát xít Nhật và quân Tưởng Giới Thạch trước đây bắn vào các lỗ thông hơi làm
thiệt mạng cả những thương bệnh binh cũng như dân quanh vùng đến đây lánh nạn.
Ngày 19 tháng 2, Đặng Tiểu Bình kiên
trì với kế sách cũ, cố ý đi gặp giới ngoại giao Argentina và tuyên bố "đây
chỉ là cuộc chiến tranh hạn chế" để trấn an dư luận, muốn Việt Nam bị
hoang mang, và chừa một đường lui, giữ một chiếc thang để trèo xuống. Cùng
ngày, Liên Xô viện trợ gấp một số vũ khí khí tài cho Việt Nam qua cảng Hải
Phòng, đồng thời dùng máy bay vận tải chuyển một số sư đoàn chủ lực của Việt
Nam từ Campuchia về.

Đến 21 tháng 2, Trung Quốc tăng cường
thêm 2 sư đoàn và tiếp tục tấn công mạnh hơn nữa. Ngày 22, các thị xã Lào Cai
và Cao Bằng bị chiếm. Quân Trung Quốc tấn công thêm một số vùng tại Hà Tuyên,
Cao Bằng, Lạng Sơn, và Quảng Ninh. Chiến sự lan rộng tới các khu đô thị ven biển
ở Móng Cái. Về phía Việt Nam, cùng lúc với việc triển khai phòng ngự quyết
liệt, khoảng từ 3 đến 5 sư đoàn (gồm khoảng 3 vạn quân) cũng được giữ lại để
thành lập một tuyến phòng ngự cánh cung từ Yên Bái tới Quảng Yên với nhiệm vụ
bảo vệ Hà Nội và Hải Phòng.
Ngày 23 tháng 2, Đặng Tiểu Bình thấy
quân đội và vũ khí bị tổn thất quá nhiều, thấy hình hình có vẻ không ổn, liền
nhắc lại tuyên bố về "cuộc chiến tranh hạn chế" và nói tùy theo tình
hình có thể rút quân trong vòng 10 ngày hoặc hơn. Tuyên bố nước đôi, ba phải,
huề vốn này được xem là thông điệp nhằm ngăn Liên Xô tăng cường áp lực quân sự
ở biên giới Trung - Xô, xoa dịu dư luận trong và ngoài nước, gây khó hiểu cho
Việt Nam, làm giảm xuống tinh thần chiến đấu của VN, và chừa một con đường lui,
giữ lại quốc thể một khi thua trận.
Trong khi đó, một tuần dương hạm
Sverdlov và một khu trục hạm Krivak của Liên Xô đã rời cảng từ ngày 21 tiến về
phía vùng biển Việt Nam. Liên Xô cũng đã bắt đầu dùng máy bay giúp Việt Nam chở
quân lính và vũ khí ra Bắc. Hai chuyến bay đặc biệt của Liên Xô và Bulgaria chở
vũ khí khí tài bay tới Hà Nội. Một phái đoàn quân sự của Liên Xô cũng bay tới
Hà Nội.
Ngày 26 tháng 2, thêm nhiều quân Trung
Quốc tập trung quanh khu vực Lạng Sơn chuẩn bị cho trận chiến đánh chiếm thị xã
này. Ngày 25 tháng 2, tại Mai Sao, Quân đoàn 14 thuộc Quân khu 1, Quân đội Nhân
dân Việt Nam cùng Bộ chỉ huy thống nhất Lạng Sơn được thành lập, lực lượng bao
gồm các sư đoàn 3, 327, 338, 337 (đang từ quân khu 4 ra) và sau này có thêm sư
đoàn 347 cùng các đơn vị trực thuộc khác.
Trong giai đoạn đầu đến ngày 28 tháng
2 năm 1979, quân Trung Quốc đánh chiếm các thị xã Lào Cai, Cao Bằng, và một số
thị trấn. Các cơ sở vật chất, kinh tế ở những nơi này bị phá hủy triệt để. Tuy
nhiên, do vấp phải sự phòng ngự hiệu quả của Việt Nam cũng như có chiến thuật
lạc hậu so với phía Việt Nam nên quân Trung Quốc tiến rất chậm và bị thiệt hại
nặng nề. Quân đội Nhân dân Việt Nam còn mở cuộc tấn công khá sâu vào lãnh thổ
Trung Quốc, đánh thẳng vào hai thị trấn biên giới Ninh Minh thuộc tỉnh Quảng
Tây và Malipo thuộc tỉnh Vân Nam của Trung Quốc.

Giai đoạn 2:
Giai đoạn 2 bắt đầu từ ngày 27 tháng
2. Đây là giai đoạn bộc lộ sự gian dối, tráo trở và dã tâm xâm lược của Trung
Quốc. Chiến sự tập trung tại Lạng Sơn tuy giao tranh tại Lào Cai, Cao Bằng, và
Móng Cái vẫn tiếp diễn. Trận đánh chiếm thị xã Lạng Sơn bắt đầu lúc 6 giờ sáng
cùng ngày. Trung Quốc điều tới đây thêm 2 sư đoàn từ Đồng Đăng và Lộc Bình
(phía Đông Nam Lạng Sơn). Áp dụng chính sách hai mặt, Trung Quốc tiếp tục điều
quân từ Trung Quốc sang Việt Nam để tăng viện, trợ lực, tiếp chiến. Điều này đã
cho thấy những lời hứa hẹn "cuộc chiến giới hạn", "có thể sẽ rút
quân" chỉ là dối trá. Một mặt họ tuyên bố đây là cuộc chiến "giới
hạn", mặt khác họ điều thêm quân. Họ vừa tuyên bố có thể sẽ rút quân vừa
tăng cường thêm quân mới. Thay vì giữ lời rút quân về sau giai đoạn 1, thì họ
tiếp tục giai đoạn 2 và tăng cường, bổ sung thêm đông đảo viện binh từ chính
quốc.
Tại Lạng Sơn, các Sư đoàn 3, 337, của
Quân đội Nhân dân Việt Nam đã tổ chức phòng thủ chu đáo và đánh trả mãnh liệt
trước các đợt tấn công lớn của quân xâm lược. Từ ngày 2 tháng 3, Sư đoàn 337
trụ tại khu vực cầu Khánh Khê. Một mình Sư đoàn 3 QĐNDVN chống lại 3 sư đoàn bộ
binh 160, 161, 129, cùng nhiều tăng, pháo của TQ, vốn đang tiến công trên một
chiều dài 20 km từ xã Hồng Phong huyện Văn Lãng đến xã Cao Lâu huyện Cao Lộc.
Suốt ngày 27 cùng tháng, ở hướng Cao
Lộc, sư đoàn 129 Trung Quốc không phá nổi trận địa phòng thủ của trung đoàn
141; ở hướng đường 1B, sư đoàn 161 TQ bị trung đoàn 12 QĐNDVN kìm chân; ở hướng
đường 1A, một mình trung đoàn 2 QĐNDVN vừa chặn đánh sư đoàn 160 từ phía Bắc
vừa chống lại cánh quân của sư đoàn 161 từ hướng Tây Bắc bất ngờ đánh thọc sang
vào hông, một mình chống cự lại 2 cánh quân của giặc chia quân đánh ập vào hai
bên hông, bên sườn của mình.
14 giờ ngày hôm đó, 1 tiểu đoàn giặc
bí mật luồn qua phía sau bất ngờ đánh tập hậu và chiếm được điểm cao 800, nơi
đặt đài quan sát pháo binh của sư đoàn 3 Sao Vàng. Mất điểm cao 800, thế trận
phòng ngự của ta ở phía tây đường 1A từ Cốc Chủ đến điểm cao 417 bị chọc thủng.
Tuy chiếm được điểm cao 800 và Tam
Lung, nhưng trong suốt các ngày từ 28 tháng 2 đến 2 tháng 3, quân xâm lược vẫn
không vượt qua được đoạn đường 4 km để vào thị xã Lạng Sơn, dù đã dùng cho
hướng tiến công này tới 5 sư đoàn bộ binh để đánh ập vào (đúng như lời Đặng
Tiểu Bình nói: 5 đánh 1) mà vẫn không vượt qua nổi.
Sau nhiều trận đánh đẫm máu giành giật
các điểm cao quanh Lạng Sơn, mà trong đó có những trận quân phòng thủ Quân đội
Nhân dân Việt Nam bắn hết viên đạn cuối cùng, đánh tới người lính cuối cùng,
quyết chiến liều mạng chết chung với giặc, có những lần giặc ném lựu đạn vào,
chưa kịp nổ thì ta nhanh tay cầm lựu đạn ném trả lại, có những lúc những chiến
sĩ QĐNDVN anh hùng đã rút chốt lựu đạn lao vào cùng chết với giặc trong những
trận giáp chiến xáp lá cà.
Quân Trung Quốc bắt đầu bao vây thị xã
Lạng Sơn ngày 2 tháng 3 sử dụng thêm sư đoàn 162 dự bị chiến dịch của Quân đoàn
54 và dùng 6 sư đoàn tấn công đồng loạt trên nhiều hướng. Chiều ngày 4, một
cánh quân Trung Quốc đã vượt sông Kỳ Cùng, chiếm điểm cao 340 và vào tới thị xã
Lạng Sơn, một cánh quân khác của sư đoàn 128 Trung Quốc cũng chiếm sân bay Mai
Pha, điểm cao 391 ở phía Tây Nam thị xã.
Đến đây, phía Việt Nam đã điều các sư
đoàn chủ lực có xe tăng, pháo binh, không quân hỗ trợ áp sát mặt trận, chuẩn bị
phản công giải phóng các khu vực bị chiếm đóng. Quân đoàn 14 với các sư đoàn
337, 327, 338 hầu như còn nguyên vẹn đang bố trí quân quanh thị xã Lạng Sơn.
Quân đoàn 2, chủ lực của Quân đội Nhân dân Việt Nam, đã tập kết sau lưng Quân
đoàn 14.


Lui quân về nước
Sau khi thấy các lực lượng chủ lực của
Việt Nam đã đến nơi và các lực lượng chính quy khác cũng đang ầm ầm kéo quân ra
Bắc, cộng với kết quả thương vong, tổn thất to lớn của Trung Quốc, ngày 5 tháng
3 năm 1979, Đặng Tiểu Bình tuyên bố đã "hoàn thành mục tiêu chiến
tranh", "chiến thắng" và bắt đầu rút lui. Cũng ngày 5 tháng 3
năm 1979, Việt Nam ra lệnh tổng động viên toàn quốc. Mặc dù Trung Quốc tuyên bố
rút quân, chiến sự vẫn tiếp diễn ở một số nơi.
Việt Nam bí mật điều động sư đoàn 338
mai phục ở ngả Chi Mã, rồi ngày 7 tháng 3 nói với Trung Quốc rằng để thể hiện
thiện chí hòa bình, Việt Nam sẽ cho phép Trung Quốc rút quân, nhưng sau đó bất
ngờ cho sư đoàn 337 truy kích, ý muốn đánh đuổi và đẩy quân Trung Quốc vào địa
điểm đã có phục binh. Sư đoàn 337 của Việt Nam vốn đã tham chiến từ ngày 2
tháng 3 tại khu vực cầu Khánh Khê ở Lạng Sơn để tiếp viện cho các đơn vị đang
chặn đánh quân Trung Quốc. Sư đoàn này đến nơi quá muộn để thay đổi cục diện
trận đánh tại Lạng Sơn, và do thời gian phối hợp không ăn ý giữa 2 sư đoàn 337
và 338, và với sự đề phòng từ trước của Trung Quốc (phục binh bị phát hiện sớm,
giặc chưa vào sâu trận địa mai phục), cuộc truy kích và phục kích đã không đem
lại kết quả đại thắng như mong đợi. Nhưng 2 sư đoàn này cũng tổ chức phản kích
đánh vào quân xâm lược đang tháo lui qua ngả Chi Mã và gây tổn thương lớn cho
giặc. Đầu tiên là sư đoàn 338 tuy bị phát hiện nhưng vẫn chặn đánh quân xâm
lăng, sau đó sư đoàn 337 đến muộn nhưng vẫn tận lực trợ chiến, hai lực lượng đã
hiệp đồng tác chiến một cách hiệu quả, gây thiệt hại nặng cho quân cướp nước.
Sau vụ này, tướng Hứa Thế Hữu nói: Người Việt Nam quả thật gian trá.
Ngày 18 tháng 3 năm 1979, người lính
Trung Quốc cuối cùng đành ôm vết thương thể xác và tinh thần rời khỏi Việt Nam.
Việt Nam đã thành công gây tổn thương nặng cho quân giặc cả về quân đội và vũ
khí, nhân mạng và khí tài, và đánh lui, đẩy lùi quân giặc ra khỏi cõi bờ, bảo
vệ thắng lợi miền Bắc và biên giới phía Bắc, viết thêm một trang sử hào hùng
trong lịch sử chống ngoại xâm, chống Bắc xâm của dân tộc.
Đối với người dân Campuchia, Quân đội
Nhân dân Việt Nam được coi là “Đội quân nhà Phật”, nhưng đối với giặc Nam, giặc
Bắc thì các chiến sĩ QĐNDVN đã chiến đấu anh dũng không kém tổ tiên, không thẹn
với tiền nhân, không hổ danh với ông cha anh hùng, và xứng danh Bộ đội cụ Hồ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét