Hậu chiến
Sau khi bị Việt Nam đánh bại, Trung
Quốc tiếp tục uy hiếp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, can thiệp vào công
việc nội bộ của nước Cộng hòa Campuchia, che giấu bộ mặt đại bá quyền của mình
bằng cách đặt điều, vu khống Việt Nam là "tiểu bá". Theo văn kiện “Sự
thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc 30 năm qua” do NXB Sự Thật phát hành năm
1979, thì ngay sau cuộc chiến Trung Quốc đã cùng với Hoa Kỳ lợi dụng chiêu bài
"nhân quyền" để bôi đen Việt Nam trên trường quốc tế, với mục tiêu
lâu dài lúc đó là thôn tính ba nước Đông Dương, dùng Đông Dương làm bàn đạp
bành trướng xuống Đông Nam Á.
Trong suốt cuộc chiến, nhất là sau khi
thua chạy, Trung Quốc luôn tuyên bố họ "không tham vọng dù chỉ một tấc đất
lãnh thổ Việt Nam" để đỡ mất thể diện, đỡ mặc cảm bại trận, một dạng của
tâm lý AQ. Trên thực tế, Trung Quốc xâm lược với một hình thức tương tự Pháp -
Mỹ trong thời đại mới, xâm lược kiểu thực dân mới chứ không phải xâm lược để
sát nhập đất đai vào trong lãnh thổ Trung Quốc như phong kiến phương Bắc, họ
tuyên bố như vậy trong suốt cuộc chiến là để che giấu bản chất xâm lược phi
nghĩa, lừa dối dư luận Trung Quốc và quốc tế, làm nhẹ đi các lên án, chỉ trích
từ các nước yêu hòa bình, công lý và nhân dân tiến bộ trên thế giới, và gây
hoang mang cho quân đội Việt Nam (không biết rõ mục tiêu chiến lược của nó, nó
muốn gì, sẽ làm gì), gây giảm sút tinh thần đề kháng và cường độ chống trả của
các chiến sĩ Việt Nam (vì chủ quan cả tin rằng chúng đánh một chút rồi lui ngay,
chúng "không muốn chiếm miền Bắc", "không muốn chiếm nước
ta").
Tuy nhiên, sau khi thua trận, thất bại
không thể dựng lên được ngụy quyền Hoàng Văn Hoan, không lật đổ được "bè
lũ Lê Duẩn", không có cơ hội sử dụng những con bài chính trị, quân đội
Trung Quốc liền gian trá, lật lọng vẫn giữ lấy một số địa điểm, đất đai ở biên
giới phía Bắc Việt Nam. Tại một số nơi như khu vực quanh Ải Nam Quan gần Lạng
Sơn, quân Trung Quốc vẫn "cù nhầy" cố giữ một số lãnh thổ. Tại các
nơi khác, quân Trung Quốc chiếm giữ các vị trí chiến lược quân sự làm bàn đạp
để từ đó có thể tiến đánh Việt Nam. Vì vậy Việt Nam sau đó phải tiến hành một
loạt chiến dịch quân sự nhằm giải phóng các khu vực đó. Những sự kiện này được
ghi nhận trong các tài liệu của Mỹ, Pháp, Úc như giáo sư Carlyle A. Thayer
trong tài liệu "Security Issues in Southeast Asia: The Third Indochina
War, Conference on Security and Arms Control in the North Pacific", Đại
học Quốc gia Úc Đại Lợi, Canberra, 1987, François Joyaux trong sách "La
Tentation impériale - Politique extérieure de la Chine depuis 1949",
Paris: Imprimerie nationale xuất bản năm 1994, hay Edward C. O'Dowd trong sách
"Chinese Military Strategy in the Third Indochina War", NXB Rutledge
xuất bản năm 2007.
Tới đầu những năm 1990, cùng với việc
Việt Nam rút quân khỏi Campuchia làm Trung Quốc lấy lại chút thể diện và Liên
Xô sụp đổ làm TQ "lạnh gáy" trong lúc phong trào cộng sản quốc tế bị
suy thoái, và cũng vì nhu cầu hòa bình, ổn định trong khu vực, gác lại quá khứ,
bắt tay nhau hợp tác, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng hai nước,
hướng tới tương lai v.v., nên quan hệ giữa hai nước dần hồi phục trở lại bình
thường.
Sau khi thua đau, Trung Quốc quyết tâm
bắt tay vào thực hiện cải cách và hiện đại hóa quân đội cho đến ngày nay. Có
thể nói chính Việt Nam đã dạy cho Đặng Tiểu Bình và Trung Quốc một bài học, chứ
Trung Quốc không "dạy" được Việt Nam điều nào cả, không buộc VN phải
xuống 1 nước nào, lui 1 bước nào, phải nhượng bộ 1 điều gì, phải làm 1 việc gì
theo ý muốn Trung Quốc. Ngân sách quốc phòng của Trung Quốc phải tăng từ 15%
năm 1978 lên 18% năm 1979 trong một bối cảnh kinh tế chưa thấy gì sáng lạn.
Tuy nhiên, khách quan nhìn nhận thì
quan hệ thù địch giữa 2 quốc gia đã làm Việt Nam đã phải trả một cái giá rất
đắt. Việc Trung Quốc dùng đại quân duy trì áp lực quân sự nặng nề và đầy hiểm
họa tại vùng biên giới trong suốt 10 năm sau đó buộc Việt Nam cũng phải duy trì
đại quân, bao gồm các sư đoàn thiện chiến, tinh nhuệ nhất, có kinh nghiệm chiến
đấu nhất, từng thân chinh bách chiến trên khắp chiến trường chống Mỹ ở biên
giới và miền Bắc. Cùng với việc bị vướng víu ở Campuchia đối với tàn dư, tàn
quân Pol Pot, xung đột quân sự biên giới với Thái Lan v.v., cộng với sự tuyên
truyền chống Việt Nam dai dẳng và tinh vi của Mỹ - Trung, khiến Việt Nam bị cô
lập trên trường quốc tế.
Bao vây kinh tế, cô lập chính trị, cấm
vận quân sự, thậm chí cấm vận nhân đạo, nhiều tổ chức nhân đạo, từ thiện quốc
tế thời đó muốn viện trợ nhân đạo cho Việt Nam đều bị Mỹ - Trung tìm cách ngăn
cản, áp lực, gây sức ép, nhiều đoàn tàu chở thực phẩm, gạo, nước ngọt, gia súc
tới VN, có khi chỉ để giúp đỡ người dân miền Trung VN thường xuyên căng mình
chịu thiên tai, lũ lụt, cũng bị hải quân Mỹ, Thủy quân Lục chiến Mỹ, Hạm đội 7
ngăn lại và bắt phải quay về, và đe dọa xa gần rằng sẽ "không bảo đảm an
toàn cho quý vị nếu gặp hải tặc". Nhiều thông tin thời đó cho biết Mỹ -
Trung còn giả dạng cướp biển hoặc báo tin, chỉ điểm, đứng sau, ủng hộ cho bọn
cướp biển, bọn hải tặc Thái Lan đón đường, trấn lột, cướp bóc những đoàn tàu viện
trợ nhân đạo này, với mục đích duy nhất là bao vây, cô lập, cấm vận, và dồn
Việt Nam vào chỗ sụp đổ như Liên Xô, Đông Âu.
Nền kinh tế Việt Nam yếu kém, nhiều
người dân phải xếp hàng nhận bo bo ăn thay cơm, bị Hoa Kỳ, Trung Quốc và phương
Tây cấm vận, phải căng ra duy trì một lực lượng quân đội lớn ở cả phía Nam và
phía Bắc, trong khi vẫn phải trả nợ những viện trợ của Liên Xô cho cuộc chiến
chống Pháp, Mỹ. Sau khi Liên Xô tan rã và Việt Nam rút quân khỏi Campuchia, đến
năm 1992 quan hệ giữa hai nước mới được bình thường hóa chính thức.
Sau khi thất bại tại Việt Nam, các
phương tiện truyền thông đại chúng của Trung Quốc không còn nói gì nhiều về
cuộc chiến này, cuộc chiến tranh này bị bưng bít hoàn toàn trong tất cả sách
giáo khoa lịch sử ở Trung Quốc. Trong khi sách giáo khoa phổ cập trung học lớp
12 ở Việt Nam ngày nay vẫn ghi nhận rõ ràng: Quân xâm lược bành trướng Bắc Kinh
đã tấn công toàn tuyến biên giới phía Bắc, và bộ đội, du kích ta đã chiến đấu
anh dũng đánh đuổi chúng đi, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của chúng, đánh
bại chủ nghĩa bá quyền nước lớn của Bắc Kinh.
Tại Trung Quốc, theo giáo sư Howard
French trên báo New York Times số ngày 1 tháng 3 năm 2005, các phương tiện
truyền thông Đại Lục, Hồng Kông, Ma Cao gần như lãng quên nó, các tuyển tập bài
hát không còn dám in các ca khúc nói về cuộc chiến, sách nghiên cứu viết về
cuộc chiến bị từ chối không dám xuất bản, đa số cựu chiến binh từng tham gia
cuộc chiến buồn không muốn nhắc đến nó, không còn muốn nói về nỗi nhục bại trận
này.
Sau khi rút quân về nước 1 tháng, theo
bản dịch của ông Dương Danh Dy gởi tới BBC bài phát biểu của Đặng Tiểu Bình
trong hội nghị nội bộ ngày 16/3/1979, Đặng Tiểu Bình đã phẫn nộ nói với các
cộng sự và các lãnh đạo quân đội: "Đánh lần này vũ khí, quân số đều gấp mấy
lần Việt Nam. Chiến đấu ở Cao Bằng chí ít là 5 đánh 1, 6 đánh 1. Chiến đấu ở
Lạng Sơn, Lào Cai cũng đều gấp mấy lần, thậm chí 6 đánh 1, 7 đánh 1." và
"Thương vong của chúng ta là 4 lần so với 1. Thần thoại của chúng ta đã bị
hủy diệt." Điều này do chính người lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc thời
đó đã thú nhận, càng cho thấy truyền thống "lấy ít địch nhiều",
"lấy yếu thắng mạnh", “lấy thế thắng lực” của quân dân Việt Nam, nối
tiếp từ những gương xưa trong các cuộc chiến chống Bắc xâm, chống ngoại xâm.
Tại Việt Nam, những nhạc phẩm, tác
phẩm, sách báo, bài viết, bài nói, hồ sơ, tài liệu về cuộc chiến đó tuy không
tái xuất bản nhưng vẫn được lưu hành ngoài thị trường chứ không bị thu hồi như
ở Trung Quốc. Những bài hát sáng tác trong thời kỳ đó vẫn lưu hành. Sách
"Sự thật quan hệ Việt Nam - Trung Quốc 30 năm qua" của NXB Sự thật,
xuất bản năm 1979, hay sách “Tam giác Trung Quốc - Campuchia - Việt Nam” của
Wilfred Burchett, NXB Thông tin Lý luận và nhiều sách cũ, truyện cũ, tiểu
thuyết, truyện tranh, tuyển tập truyện ngắn, sử liệu, tư liệu v.v. có nội dung
tương tự đến nay vẫn có lưu trữ trong một số thư viện nhà nước, bày bán trong
một số nhà sách chính thức, hiệu sách hợp pháp.
Tuy nhiên, Việt Nam ít nhắc lại cuộc
chiến 1 tháng này, hay nghiên cứu, hội thảo chuyên sâu, không tái bản những tác
phẩm, nhạc phẩm, văn hóa phẩm về nó một phần là vì Việt Nam và Trung Quốc đã
thỏa thuận là "không tuyên truyền chống nhau", một trong những điều
kiện để bình thường hóa quan hệ hai nước năm 1992, phần khác là vì cuộc chiến
chỉ kéo dài 1 tháng, không có nhiều diễn biến, sự kiện, hay hội chứng từ nó để
nói như cuộc kháng chiến chống Pháp 9 năm và chống Mỹ 21 năm. Và chủ yếu là,
theo giải thích nguyên văn của ông Dương Danh Dy, cựu Bí thư thứ nhất Đại sứ
quán Việt Nam tại Bắc Kinh, thì Việt Nam: "Không nói lại chuyện cũ là vì
nghĩa lớn, chứ không phải vì chúng ta không có lý, không phải vì người Việt Nam
sợ hãi hay chóng quên". Một số hồ sơ, tài liệu, sử liệu về cuộc chiến này
vì sự "lấy đại cuộc làm trọng" mà tạm cất vào kho, những nghiên cứu
chuyên sâu, cao cấp về cuộc chiến này tạm gác lại, nhưng sau này khi hữu sự nó
sẽ lại được bung ra.
Trong buổi Thông cáo báo chí năm 2009,
khi được hỏi về cuộc chiến từ 30 năm trước, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Trung
Quốc nói khỏa lấp rằng từ nhiều năm trước lãnh đạo hai nước đã "thỏa thuận
khép lại quá khứ và mở ra tương lai" và từ chối bình luận gì về nó, rõ
ràng, đây là một nỗi đau khó quên, một vết nhơ, một vết thương khó lành, một
quốc nhục khó phai, khó nuốt, khó tiêu hóa trong lịch sử Trung Quốc và CHND
Trung Hoa.
Cuối thập niên 1970, đầu thập niên
1980, nhà cầm quyền Trung Quốc giương cao chiêu bài “nhân quyền” của tổng thống
Mỹ Jimmy Carter, lợi dụng vấn đề người Việt Nam xuất ngoại làm một vũ khí mới
để chống Việt Nam. Những người Việt Nam đi ra nước ngoài một phần là những
người giàu có và những sĩ quan trước đây sống nhờ Mỹ và chế độ bù nhìn Sài Gòn,
có "dây mơ rễ má" với Mỹ-ngụy, quyền lợi của họ gắn liền với bộ máy
chiến tranh của Mỹ, một phần những người Hoa do Bắc Kinh dụ dỗ, cưỡng bức ra
đi; một số là những người trước đây sống trong xã hội tiêu thụ kiểu Mỹ và nay
không chịu nổi những khó khăn do cuộc chiến tranh xâm lược 30 năm của Pháp - Mỹ
và sự xâm lăng, phá hoại của bọn bành trướng Bắc Kinh và đàn em gây ra, phần
lớn là những người không sống nổi trong tình hình xã hội và kinh tế hỗn loạn,
nghèo đói thời đó, muốn tìm tới Mỹ và những nước giàu để có một cuộc sống kinh
tế tốt hơn.
Thật ra ngay từ tháng 1 năm 1979,
Chính phủ Việt Nam đã tuyên bố cho phép những người có nguyện vọng ra nước
ngoài để sum họp gia đình hoặc làm ăn sinh sống được xuất cảnh một cách hợp
pháp sau khi đã làm đầy đủ các thủ tục cần thiết. Mặt khác, các cơ quan có
trách nhiệm của Việt Nam đã cùng cơ quan Cao ủy Liên Hiệp Quốc về vấn đề người tỵ
nạn thỏa thuận một chương trình 7 điểm được công bố ngày 30 tháng 5 năm 1979,
nhằm tạo điều kiện dễ dàng cho những người nói trên ra đi một cách có trật tự
và an toàn, đồng thời làm giảm bớt khó khăn cho các nước Đông Nam Á.
Song Bắc Kinh và Washington đều huy
động bộ máy tuyên truyền, truyền thông khổng lồ và mọi phương tiện chính trị,
kinh tế, tài chính của họ, lợi dụng khía cạnh nhân đạo của vấn đề, sử dụng mọi
thủ đoạn gian dối, xuyên tạc, kích động để bóp mép sự thật về vấn đề những
người Việt Nam vượt biên, xuất cảnh, phát động những chiến dịch thông tin quy
mô chống Việt Nam.
Vai trò của Mỹ -
Trung trong sự kiện thuyền nhân
Việt Nam cũng có những thiếu sót, sai
lầm trong thời hậu chiến, về chính sách, về cách làm, về chính trị, quân sự,
kinh tế, ngoại giao, văn hóa v.v., nhưng không nên quên rằng Mỹ đã tiến hành
một cuộc chiến tranh xâm lược có tính chất hủy diệt chống Việt Nam, Nixon đã
nhiều lần hô hào đòi “đưa Việt Nam về thời kỳ đồ đá”. Và sau khi bại trận, họ
để lại một đất nước tàn phá, một nền kinh tế tê liệt, với trên 3 triệu người
thất nghiệp, trên một triệu người bị tàn phế. Gần 800.000 trẻ em mồ côi, trên
600.000 gái mại dâm, trên 1 triệu thanh niên nghiện ma túy...
Trung Quốc thì "ném đá xuống
giếng", "xát muối vào vết thương", gây ra “nạn kiều”, cưỡng ép,
dụ dỗ người Hoa bỏ bê lao động, xây dựng, bỏ lại nhà cửa, ruộng đồng, nhà máy
để đi Trung Quốc, dùng những tổ chức của Cục tình báo Hoa Nam để quấy rối về
chính trị, đầu cơ, tích trữ, nâng giá hàng, in bạc giả, nhằm phá hoại nền kinh
tế của Việt Nam, chồng chất thêm khó khăn cho người dân Việt Nam.
Trong lúc các cơ quan hữu quan của
Việt Nam đang cùng Cơ quan Cao ủy LHQ về vấn đề người tỵ nạn, tổ chức việc ra
đi có trật tự và an toàn, thì Bắc Kinh cho tay sai trà trộn vào dân tổ chức việc
ra đi bất hợp pháp, gọi là "đi chui", móc nối với những cán bộ tha
hóa, biến chất, bọn tham nhũng, chia rẽ và gây thù hận giữa người dân và chính
quyền, công an, rồi kêu la rằng Việt Nam “xuất cảng nạn dân”, (rất nhiều người
/ nhóm tổ chức vượt biên trái phép thời đó là người Trung Quốc hoặc gốc Hoa, có
người với động cơ phi chính trị, có người với động cơ chính trị) mặc dù chính
họ cho hàng ngàn người Trung Quốc hàng ngày sang Hồng Kông để từ đó đi
Singapore và các nước Đông Nam Á, và hoàn toàn bỏ rơi, không quan tâm đến số
phận hơn 26.000 Hoa kiều tiến bộ, yêu hòa bình đã bị Khmer Đỏ trục xuất khỏi
Campuchia. Lúc ấy có những chính phủ, tổ chức phương Tây vì không hiểu sự thật
ở Việt Nam, hoặc vì mờ mắt trước thị trường kinh tế đang mở cửa đầy tiềm năng,
muốn lấy lòng Trung Quốc để được TQ cho vào buôn bán làm ăn, đã a dua, phụ họa
theo chiến dịch kích động và vu cáo của Mỹ - Trung.
Trung Quốc vẫn "liên Mỹ đả
Việt", 2 chính phủ tiếp tục "vừa ăn cướp, vừa la làng", 2 kẻ có
nhiều "thành tích" chà đạp nhân quyền và luật pháp quốc tế, 1 kẻ xâm
lăng bành trướng khu vực, vi phạm nhân quyền nghiêm trọng trong "Cách mạng
văn hóa", 1 kẻ xâm lược bành trướng toàn cầu, vi phạm nhân quyền nghiêm
trọng ở VN và nhiều nước khác khắp Á - Phi, gây ra nhiều cuộc thảm sát thường
dân, nhiều tội ác chiến tranh, nhiều tội ác diệt chủng chống nhân loại, lại
giương cao chiêu bài "nhân quyền", “nhân đạo” để thực hiện mục đích
chính trị của họ.
Mục đích của Mỹ là trả thù chính trị,
vớt vát chút quốc thể, danh dự nước lớn, rằng đây là kết quả mà “mày” phải chịu
khi dám chống “tao”, và cũng để phá hoại VN, một nước đang thân Liên Xô, kẻ thù
Chiến tranh lạnh của Mỹ, có ý thức hệ và những lợi ích khác Mỹ. Mục đích của
Bắc Kinh là xóa nhòa những tội ác của họ ở Campuchia và trong cuộc chiến tranh
xâm lược Việt Nam, che đậy việc họ kích động người Hoa ở Việt Nam ra đi và
“xuất cảng” hàng chục vạn người Trung Quốc ra nước ngoài, gây khó khăn cho các
nước ASEAN, chia rẽ các nước ASEAN với Việt Nam, đánh lạc hướng về nguy cơ của
chủ nghĩa bành trướng nước lớn và chủ nghĩa bá quyền đại dân tộc, chủ nghĩa bá
quyền Đại Hán, và vai trò của “đạo quân thứ 5” người Hoa ở châu Á.
Các thế lực đế quốc và bá quyền, chủ
yếu là Washington và Bắc Kinh, đã thất bại trong âm mưu biến Hội nghị quốc tế ở
Geneve tháng 7, 1979 về vấn đề người Đông Dương đi ra nước ngoài thành một diễn
đàn để vu cáo và chửi bới Việt Nam. Những đề nghị của Đoàn đại biểu Chính phủ
Cộng hòa XHCN Việt Nam tỏ rõ thái độ xây dựng và hợp tác trong việc giải quyết
vấn đề những người di cư, đã được sự đồng tình rộng rãi của đại biểu nhiều quốc
gia, và đã góp phần quan trọng vào thành công của Hội nghị là đặt được nền tảng
của một giải pháp cho vấn đề như Tổng thư ký LHQ lúc đó đã kết luận. Nhưng thực
tế còn nhiều khó khăn và phức tạp do những hoạt động phá hoại của Washington và
Bắc Kinh.
Những năm sau chiến tranh, suốt từ
giai đoạn 1979 - 1992 trong lúc Bắc Kinh lớn tiếng đe dọa chiến tranh, đòi “chủ
quyền” đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, thì Mỹ - vốn đang thân Tàu,
chống Việt - đã đưa Hạm đội 7 vào hoạt động ngoài khơi Việt Nam không những để
khuyến khích những người di tản vượt biên bất hợp pháp, mà còn để phối hợp /
giành giật với Bắc Kinh trong những âm mưu / lợi ích của họ ở khu vực Biển Đông
và Đông Nam Á.
Những xuyên tạc của
bọn phản động tay sai Mỹ
Chiến công đánh lui Trung Quốc xâm
lược góp phần củng cố tư cách lãnh đạo của Đảng, khiến cho những tuyên truyền
"Việt Cộng là tay sai Tầu Cộng", "Cộng sản Việt Nam bán nước cho
thiên triều Bắc phương", "CSVN là đệ tử của quan thầy Chệt đỏ"
trở thành buồn cười, trơ trẽn và vô nghĩa. Do đó, lâu nay họ cố ý lờ đi, tránh
nói về cuộc chiến này. Tuy nhiên lịch sử thì khó thể tránh né, nên khi buộc
phải đề cập tới chủ đề này thì họ thường có những xuyên tạc như sau: "Trung
Cộng trừng phạt Việt Cộng", họ xem sự kiện "Tàu Cộng đánh Việt
Cộng" là một điều gì đó thích thú để họ hả hê, hả dạ và đứng ngoài cười
cợt, chế giễu, lườm nguýt với thái độ rất tiểu nhân. Họ rập khuôn, đồng tình,
và nhái theo luận điệu chính thức của Trung Quốc về cuộc chiến, rằng
"Trung Cộng thắng Việt Cộng", "Trung Cộng dạy cho VC một bài học
nên thân" v.v. Rập khuôn và hót theo luận điệu bao đời nay của vua quan
phong kiến Trung Quốc, lần nam chinh, xuất chinh nào thua về cũng đều "chiến
thắng", "khải hoàn", hoặc thua nặng thì cũng nói thành
"trừng phạt xong nên về", "giặc gian trá, ta tha cho giặc nên
rút về".
Họ tự biến mình thành người Tàu, nhìn
nhận theo góc độ, quan điểm của Tàu, đem Tàu đặt làm trung tâm, nên thay vì
nhìn thấy Việt Nam thắng Trung Quốc, đánh lui hơn 50 vạn quân Trung Quốc, thì
họ chỉ thấy "Trung Cộng dạy Việt Cộng bài học", "Trung Cộng
trừng phạt VC", "cuộc chiến răng cắn môi chảy máu", "đáng
đời Vi Xi", "đáng kiếp cộng sản" v.v.
Tương tự, về công hàm xã giao của ông
Phạm Văn Đồng vốn không nói gì đến Hoàng Sa và cho biết sẽ tôn trọng 12 hải lý
của Trung Quốc, công hàm sau khi bị Trung Quốc diễn giải xuyên tạc theo lợi ích
của họ, từ tham vọng, dã tâm độc chiếm Biển Đông của họ, thì những phần tử phản
động người Việt đã rập khuôn luận điệu xuyên tạc này của Trung Quốc, a dua, phụ
họa với tuyên bố chính thức của Trung Quốc, hùa theo hành động xuyên tạc để
bành trướng và cướp đảo của Trung Quốc, tự biến bản thân thành người Trung
Quốc, phục vụ cho lợi ích của Trung Quốc.
Ngoài ra, họ còn xuyên tạc Việt Nam
chống Trung Quốc là chống cho Liên Xô, rằng VN là "tay sai" của Nga
Xô, Nga Cộng. Trong khi thực binh Liên Xô không tham gia chiến sự, viện trợ của
LX là có giới hạn và có hoàn lại (về sau mới được Liên bang Nga xóa nợ sớm).
Liên Xô chỉ giúp Việt Nam chống Trung Quốc trên mặt trận ngoại giao, truyền
thông, tuyên truyền, giúp VN chuyển quân một vài lần, các lực lượng lục quân và
không quân của họ đều án binh bất động, hải quân của họ không có động thái gì
đáng kể. Liên Xô không có quyền tiến hành chiến tranh trên lãnh thổ Việt Nam.
Bỉ ổi, vô liêm sỉ hơn nữa là họ xuyên
tạc rằng Quân đội Nhân dân Việt Nam đã “giả dạng Khmer Đỏ gây ra cuộc thảm sát
Ba Chúc" để kiếm cớ "xâm lược" Campuchia. Họ tự biến bản thân
thành tay sai, săn, con vẹt của Khmer Đỏ và Trung Quốc, tình nguyện làm một cái
loa rè cho bọn diệt chủng và bành trướng. Nhưng họ tuyên truyền còn bỉ ổi, điên
rồ hơn cả bọn diệt chủng Pol Pot và bọn bành trướng Bắc Kinh. Ngay cả bọn diệt
chủng và bọn bành trướng cũng không "gắp lửa bỏ tay người" vô sỉ tới
mức độ như thế. Đây là tuyên truyền của những kẻ phản động trình độ thấp, tư
chất kém và vô văn hóa, kém giáo dục, chứ ngay cả Mỹ, Khmer Đỏ, Bắc Kinh lúc ấy
(và sau này) cũng không ai tuyên truyền phản tác dụng, phản văn hóa, và xuẩn
động đến như vậy.
Họ không đủ IQ trung bình để hiểu rằng
lúc đó Việt Nam vừa mới vượt qua một thời kỳ chiến tranh dài nhất trong lịch sử
dân tộc, và một trong những thời kỳ chiến tranh dài nhất trong lịch sử thế
giới, gần 2 thế kỷ binh đao khói lửa, bị chiến tranh, bị bom Mỹ, bị chất độc
hóa học của Mỹ tàn phá tới mức nào, vừa qua khỏi 2 cuộc kháng chiến gian khổ,
đầy hy sinh chết chóc, Mỹ ra đi để lại một Việt Nam đổ nát, hoang tàn, người VN
phải xây dựng lại đất nước từ một đống đổ nát, thì làm sao còn hơi sức nào,
tinh thần nào để muốn có chiến tranh với bọn quá khích cuồng đồ Khmer Đỏ, bọn
"cùi không sợ lở" Pol Pot liều mạng có Trung Quốc chống lưng, hậu
thuẫn, còn tâm hồn nào để mà ham muốn chiến tranh, để mà "dây với
hủi"?
Giả sử Việt Nam muốn chiến tranh với
Khmer Đỏ thì không cần có cuộc Thảm sát Ba Chúc cũng quá thừa nguyên nhân, có
quá nhiều lý do, danh nghĩa khác để đánh vào Campuchia tiêu diệt bè lũ Khmer
Đỏ. Pol Pot đã xâm lược vào lãnh thổ Việt Nam, giết chóc người dân và đốt phá
làng mạc Việt Nam trong những năm 1975-1978, giết hại, diệt chủng Việt kiều và
người Campuchia. Gây ra nhiều tội ác diệt chủng, tội ác chống nhân loại.
Ngay sau khi Việt Nam hoàn toàn giải
phóng, ngày 4 tháng 5 năm 1975, quân đội Khmer Đỏ đột kích đảo Phú Quốc, 6 ngày
sau đánh chiếm và hành quyết hơn 500 dân thường ở đảo Thổ Chu. Tiếp theo cuộc
đột kích vào các đảo Thổ Chu và Phú Quốc, bên cạnh nhiều cuộc đột kích nhỏ,
Khmer Đỏ đã tiến hành 2 cuộc xâm lược quy mô lớn vào Việt Nam. Cuộc tấn công
lớn đầu tiên diễn ra vào tháng 4 năm 1977, quân chính quy Khmer Đỏ tiến sâu 10
km vào lãnh thổ Việt Nam, chiếm một số vùng ở tỉnh An Giang và tàn sát một số
lớn dân thường. Cuộc tấn công thứ hai diễn ra vào ngày 25 tháng 9 cùng năm, lần
này 4 sư đoàn quân chủ lực Khmer Đỏ đánh chiếm nhiều điểm ở các huyện Tân Biên,
Bến Cầu, Châu Thành (tỉnh Tây Ninh), đốt phá 471 ngôi nhà, làm gần 800 người
dân bị giết, bị thương hoặc mất tích. Sau khi đánh lùi quân giặc, Việt Nam đề
nghị một giải pháp ngoại giao nhằm thiết lập một vùng phi quân sự dọc biên
giới, nhưng Pol Pot cự tuyệt và giao tranh tiếp diễn.
Ngày 1 tháng 2 năm 1978, Pol Pot họp
bàn chủ trương chống Việt Nam và quyết định thành lập 15 sư đoàn. Trong nghị
quyết của họ có ghi: "Chỉ cần mỗi ngày diệt vài chục, mỗi tháng diệt vài
ngàn, mỗi năm diệt vài ba vạn thì có thể đánh 10, 15, đến 20 năm. Thực hiện 1
diệt 30, hy sinh 2 triệu người Campuchia để tiêu diệt 50 triệu người Việt
Nam". Pol Pot đã điều 13 trong số 17 sư đoàn chủ lực và một số trung đoàn
địa phương liên tục tấn công vào lãnh thổ Việt Nam, có nơi vào sâu tới 15-20
km.
Ngày 13 tháng 12 năm 1978, được sự
trang bị, huấn luyện, cố vấn và chống lưng của Trung Quốc, Khmer Đỏ đã huy động
10 trong 19 sư đoàn tiến công xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới Tây
Nam. 3 sư đoàn đánh vào Bến Sỏi với mục tiêu chiếm thị xã Tây Ninh, 2 sư đoàn
đánh vào Hồng Ngự (Đồng Tháp), 2 sư đoàn đánh khu vực Bảy Núi (An Giang), 1 sư
đoàn đánh Trà Phô, Trà Tiến (Kiên Giang). Tại những vùng chiếm đóng, Khmer Đỏ
đã thực hiện chính sách diệt chủng đối với người Việt, như đã làm với người
Khmer. Trùm khủng bố Pol Pot công khai tuyên bố chủ quyền lên trên nhiều lãnh
thổ của Việt Nam, trong đó có đảo Phú Quốc, Thổ Chu, và hoang đường ở nữa là hô
hào đánh tới Thành phố Hồ Chí Minh, tuyên bố chủ quyền lên trên TPHCM, xuyên
tạc rằng Sài Gòn trước đây là của họ. Tuyên truyền bóp méo rằng: "Nơi nào
có cây thốt nốt thì nơi đó là lãnh thổ của Campuchia."
Trong xã hội Campuchia dưới sự
"lãnh đạo" của Pol Pot và Khmer Đỏ, họ chủ trương xây dựng một xã hội
không trường học, không tiền bạc, không chợ búa, người đẹp phải lấy người xấu
trong những cuộc hôn nhân sắp đặt, cưỡng bách. Họ cho rằng đó là vì sự
"công bằng xã hội", "cân bằng sinh học".
Trẻ em Campuchia thì bị đào tạo thành
những cỗ máy sát nhân, trẻ em 5 tuổi đã được luyện hành hạ thú vật, gia súc, và
con người, lớn lên một chút thì được luyện giết người, luyện cho các em quen
dần với cảm giác giết chóc, tra tấn, bắn giết, phá hoại, hủy diệt, cảm giác
"say máu".
Trí thức thì trở thành đối tượng đều
tiêu diệt tận gốc rễ, và tiêu chí để nhận biết ai có phải là "trí
thức" hay không đó là sự đeo kính, bất kỳ ai đeo mắt kính thì đều là
"trí thức" và bị hành quyết. Một tiêu chí khác nữa là xem bàn tay, dù
ai đó không bị cận thị, không đeo kính, nhưng nếu bàn tay mịn màng, sạch sẽ,
đẹp đẽ, không thô kệch, không dơ dáy, không có dấu hiệu của việc lao động tay
chân cơ bắp thì sẽ bị coi là "lười lao động", "biếng nhác",
"con nhà giàu", "trí thức" v.v. và nhẹ thì bị chặt ngón
tay, vừa thì bị chặt nhiều ngón tay, chặt bàn tay, cánh tay, nặng thì bị giết.
Pol Pot cai trị độc tài khát máu và
man rợ như một tù trưởng của các bộ lạc ăn thịt người thời thượng cổ hay một
bạo chúa chuyên tru di cửu tộc, ngũ mã phanh thây thời trung cổ. Ông ta giết
sạch bất kỳ ai dám lên tiếng phản đối, vu cho là "theo Việt Nam",
"theo Liên Xô", "kẻ phản bội" v.v. Triệt hạ, thanh trừng
nội bộ bằng nhiều hình thức khác nhau, bắt cóc, ám sát (bắn lén, đập chết, đầu
độc, chích thuốc độc, trói hoặc bỏ vào bao rồi thả xuống sông cho chết đuối),
khủng bố, hành quyết v.v.
Với những thực tế khách quan như thế,
thì Việt Nam có cần cuộc Thảm sát Ba Chúc để lấy cớ đánh Khmer Đỏ hay không?
Tổng kết
Trong lịch sử hiện đại, Trung Quốc đã
3 lần phản bội nhân dân Việt Nam:
1. Tại Hội nghị Genève năm 1954, họ mưu
đồ bán rẻ lợi ích của nhân dân Đông Dương, không những để bảo đảm cho nước họ
một vành đai an ninh ở phía Nam, mà còn chuẩn bị địa bàn cho việc thực hiện mưu
đồ bành trướng ở Đông Dương và Đông Nam Á. Họ muốn duy trì tình trạng Việt Nam
bị chia cắt lâu dài, hòng làm cho Việt Nam suy yếu và phải nhờ vả Trung Hoa.
2. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
quốc, sau khi chế độ Ngô Đình Diệm bị Mỹ "vắt chanh bỏ vỏ",
"thay ngựa giữa dòng" thì họ xúi Mỹ ném bom miền Bắc Việt Nam và ủng
hộ Mỹ đưa gần 60 vạn quân vào trực tiếp xâm lược Việt Nam để ngăn cản cách mạng
miền Nam mở rộng tiến công, phát triển vùng giải phóng, và phá "Ấp Chiến
Lược", làm chùn bước phong trào kháng chiến ở miền Nam. Sau những sự đàm
phán với thực dân Pháp - Mỹ trên lưng Việt Nam năm 1954 trong Hội nghị quốc tế
Genève, thì trong Hội nghị Paris, VN rút kinh nghiệm không cho TQ vào đàm phán,
Việt Nam muốn đàm phán với Hoa Kỳ, để cho Mỹ rút quân trong danh dự trong Hội
nghị Paris, tận dụng mặt trận ngoại giao để chống Mỹ thì TQ liên tục bàn lùi,
bàn ra. Khi Việt Nam đang trên đà đi tới thắng lợi hoàn toàn thì họ "liên
Mỹ đả Việt" (聯美打越), bắt tay với chính
quyền Nixon.
3. Sau khi quân đội Việt Nam giải
phóng hoàn toàn miền Nam khỏi ách thống trị thực dân mới của Mỹ và thống nhất
nước nhà, họ đã dùng mọi thủ đoạn chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao để
làm suy yếu nước CHXHCN Việt Nam, tiến đến dùng lực lượng quân sự của bè lũ cực
đoan quá khích ở Campuchia xâm lược Việt Nam từ phía Tây Nam, và đem trên 50
vạn quân trực tiếp xâm lược Việt Nam ở phía Bắc, phá hoại nghiêm trọng các cơ
sở kinh tế, văn hóa của Việt Nam ở những vùng giao tranh, vùng tạm chiếm. Mưu
toan dùng con bài chính trị Hoàng Văn Hoan, thông qua ngụy quyền để chiếm đóng
lâu dài, thực hành chính sách thực dân mới như đế quốc Mỹ trước đây, âm mưu lấn
chiếm, cướp giật đất đai, lãnh thổ, mưu đồ nhổ đi cái gai Việt Nam, dùng đất
Việt làm bàn đạp, từng bước bành trướng xuống Nam.
Đây là chân dung, chân tướng của người
hàng xóm khổng lồ, vừa đểu giả vừa phức tạp, vừa to xác vừa "thâm nho",
mà Việt Nam phải tận lực đề phòng, đề cao cảnh giác. Chơi thì chơi, "anh
em" thì "anh em", nhưng không bao giờ được thật lòng với họ, và
luôn phải cảnh giác như hàng ngàn năm qua.
Thiếu Long
Tài liệu tham khảo
Việt Nam
- Lịch sử Sư đoàn 3 Sao vàng, Nhà xuất
bản Quân Đội Nhân Dân, năm xuất bản: 1980
- Cuộc chiến tranh bắt buộc, Đại tá
Nguyễn Văn Hồng, Nhà xuất bản Bến Tre, Thành phố Hồ Chí Minh, 2004
- Binh đoàn Hương Giang, Sư đoàn Sông
Lam, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội 1984
- Sư đoàn 7, Quân đoàn Cửu Long, Nhà
xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội 1985
- Sư đoàn 303, Đoàn Phước Long, Nhà
xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội 1989
- Lịch sử không quân Việt Nam, Nhà
xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội 1993
- Ký sự chiến tranh - Nhiều tác giả -
NXB Văn Học, 2006
- Văn kiện: Sự thật về quan hệ Việt
Nam - Trung Quốc 30 năm qua, NXB Sự Thật, Năm xuất bản: 1979
- Không được đụng tới Việt Nam – Nhà
xuất bản Quân Đội – Năm xuất bản: 1979
- Một số bài tham luận, trả lời phỏng
vấn, bài nói chuyện của nguyên Bí thư thứ nhất Tòa đại sứ Việt Nam tại Trung
Quốc Dương Danh Dy, và một số bản dịch của ông về những tài liệu, hồ sơ, tham
luận, phát biểu, bản báo cáo tổng kết hội thảo của người Trung Quốc.
Quốc tế
- Edward C. O'dowd (2007). Chinese
Military Strategy in the Third Indochina War. Rutledge
- King C. Chen (1987). China's War
with Vietnam, 1979: Issues, Decisions, and Implications. Hoover Press
- Nguyen Huu Thuy (1979). Chinese
Aggression: How and Why it failed. NXB Ngoại ngữ.
- Carlyle A. Thayer, Security Issues
in Southeast Asia: The Third Indochina War, Conference on Security and Arms
Control in the North Pacific, Australian National University, Canberra, August
1987
- Nayan Chanda (1986). Brother Enemy.
The War after the War.. Harcourt Brace Jovanovich
- François Joyaux (1994). La Tentation
impériale - Politique extérieure de la Chine depuis 1949. Paris: Imprimerie
nationale.
- Bùi Xuân Quang (2000). La troisième
guerre d'Indochine, 1975-1999 sécurité et géopolitique en Asie. Harmattan.
- Spencer Tucker (January 13, 2005).
Vietnam. USA: Henry Holt and Co.; 1st edition
- Ben Kiernan (August 19, 2008). 'The
Pol Pot Regime: Race, Power, and Genocide in Cambodia under the Khmer Rouge,
1975-79'. Yale University Press; 3rd edition
- Elizabeth Becker (1998). When the
war was over: Cambodia and the Khmer Rouge revolution. Public Affairs.
- Chiến tranh Đông Dương III, Hoàng
Dung, Nhà xuất bản Văn Nghệ Califonia USA, 2000
- Red Brotherhood at war - Chân lý
thuộc về ai - Tác giả: Grant Evans - Kelvin Rowley - Người dịch: Nguyễn Tấn Cưu
- Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân - Năm xuất bản: 1986
- Hành trình qua cánh đồng chết -
Chanrithy Him - Dịch giả: Mịch La - Agence France Press, 1969
- Tam giác Trung Quốc - Campuchia -
Việt Nam, Wilfred Burchett, NXB Thông tin Lý luận
- Hồi ký: Giọt nước trong biển cả,
Hoàng Văn Hoan, Tự xuất bản, Năm xuất bản: 1987
- 40 năm diễn biến quan hệ Trung -
Việt, Quách Minh chủ biên, NXB Nhân dân Quảng Tây (Trung Quốc), Năm xuất bản:
1992
- Phim tài liệu: Những năm tháng máu
và hoa, Tập 1-5, Việt Nam và Campuchia hợp tác sản xuất
- Tài liệu Internet






