Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Chiến tranh năm 1979 và cuộc đấu trí cân não giữa Trung Quốc - Việt Nam - Hoa Kỳ (kỳ 5)



Hậu chiến

Sau khi bị Việt Nam đánh bại, Trung Quốc tiếp tục uy hiếp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, can thiệp vào công việc nội bộ của nước Cộng hòa Campuchia, che giấu bộ mặt đại bá quyền của mình bằng cách đặt điều, vu khống Việt Nam là "tiểu bá". Theo văn kiện “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc 30 năm qua” do NXB Sự Thật phát hành năm 1979, thì ngay sau cuộc chiến Trung Quốc đã cùng với Hoa Kỳ lợi dụng chiêu bài "nhân quyền" để bôi đen Việt Nam trên trường quốc tế, với mục tiêu lâu dài lúc đó là thôn tính ba nước Đông Dương, dùng Đông Dương làm bàn đạp bành trướng xuống Đông Nam Á.

Trong suốt cuộc chiến, nhất là sau khi thua chạy, Trung Quốc luôn tuyên bố họ "không tham vọng dù chỉ một tấc đất lãnh thổ Việt Nam" để đỡ mất thể diện, đỡ mặc cảm bại trận, một dạng của tâm lý AQ. Trên thực tế, Trung Quốc xâm lược với một hình thức tương tự Pháp - Mỹ trong thời đại mới, xâm lược kiểu thực dân mới chứ không phải xâm lược để sát nhập đất đai vào trong lãnh thổ Trung Quốc như phong kiến phương Bắc, họ tuyên bố như vậy trong suốt cuộc chiến là để che giấu bản chất xâm lược phi nghĩa, lừa dối dư luận Trung Quốc và quốc tế, làm nhẹ đi các lên án, chỉ trích từ các nước yêu hòa bình, công lý và nhân dân tiến bộ trên thế giới, và gây hoang mang cho quân đội Việt Nam (không biết rõ mục tiêu chiến lược của nó, nó muốn gì, sẽ làm gì), gây giảm sút tinh thần đề kháng và cường độ chống trả của các chiến sĩ Việt Nam (vì chủ quan cả tin rằng chúng đánh một chút rồi lui ngay, chúng "không muốn chiếm miền Bắc", "không muốn chiếm nước ta").

Tuy nhiên, sau khi thua trận, thất bại không thể dựng lên được ngụy quyền Hoàng Văn Hoan, không lật đổ được "bè lũ Lê Duẩn", không có cơ hội sử dụng những con bài chính trị, quân đội Trung Quốc liền gian trá, lật lọng vẫn giữ lấy một số địa điểm, đất đai ở biên giới phía Bắc Việt Nam. Tại một số nơi như khu vực quanh Ải Nam Quan gần Lạng Sơn, quân Trung Quốc vẫn "cù nhầy" cố giữ một số lãnh thổ. Tại các nơi khác, quân Trung Quốc chiếm giữ các vị trí chiến lược quân sự làm bàn đạp để từ đó có thể tiến đánh Việt Nam. Vì vậy Việt Nam sau đó phải tiến hành một loạt chiến dịch quân sự nhằm giải phóng các khu vực đó. Những sự kiện này được ghi nhận trong các tài liệu của Mỹ, Pháp, Úc như giáo sư Carlyle A. Thayer trong tài liệu "Security Issues in Southeast Asia: The Third Indochina War, Conference on Security and Arms Control in the North Pacific", Đại học Quốc gia Úc Đại Lợi, Canberra, 1987, François Joyaux trong sách "La Tentation impériale - Politique extérieure de la Chine depuis 1949", Paris: Imprimerie nationale xuất bản năm 1994, hay Edward C. O'Dowd trong sách "Chinese Military Strategy in the Third Indochina War", NXB Rutledge xuất bản năm 2007.

Tới đầu những năm 1990, cùng với việc Việt Nam rút quân khỏi Campuchia làm Trung Quốc lấy lại chút thể diện và Liên Xô sụp đổ làm TQ "lạnh gáy" trong lúc phong trào cộng sản quốc tế bị suy thoái, và cũng vì nhu cầu hòa bình, ổn định trong khu vực, gác lại quá khứ, bắt tay nhau hợp tác, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng hai nước, hướng tới tương lai v.v., nên quan hệ giữa hai nước dần hồi phục trở lại bình thường.

Sau khi thua đau, Trung Quốc quyết tâm bắt tay vào thực hiện cải cách và hiện đại hóa quân đội cho đến ngày nay. Có thể nói chính Việt Nam đã dạy cho Đặng Tiểu Bình và Trung Quốc một bài học, chứ Trung Quốc không "dạy" được Việt Nam điều nào cả, không buộc VN phải xuống 1 nước nào, lui 1 bước nào, phải nhượng bộ 1 điều gì, phải làm 1 việc gì theo ý muốn Trung Quốc. Ngân sách quốc phòng của Trung Quốc phải tăng từ 15% năm 1978 lên 18% năm 1979 trong một bối cảnh kinh tế chưa thấy gì sáng lạn.

Tuy nhiên, khách quan nhìn nhận thì quan hệ thù địch giữa 2 quốc gia đã làm Việt Nam đã phải trả một cái giá rất đắt. Việc Trung Quốc dùng đại quân duy trì áp lực quân sự nặng nề và đầy hiểm họa tại vùng biên giới trong suốt 10 năm sau đó buộc Việt Nam cũng phải duy trì đại quân, bao gồm các sư đoàn thiện chiến, tinh nhuệ nhất, có kinh nghiệm chiến đấu nhất, từng thân chinh bách chiến trên khắp chiến trường chống Mỹ ở biên giới và miền Bắc. Cùng với việc bị vướng víu ở Campuchia đối với tàn dư, tàn quân Pol Pot, xung đột quân sự biên giới với Thái Lan v.v., cộng với sự tuyên truyền chống Việt Nam dai dẳng và tinh vi của Mỹ - Trung, khiến Việt Nam bị cô lập trên trường quốc tế.

Bao vây kinh tế, cô lập chính trị, cấm vận quân sự, thậm chí cấm vận nhân đạo, nhiều tổ chức nhân đạo, từ thiện quốc tế thời đó muốn viện trợ nhân đạo cho Việt Nam đều bị Mỹ - Trung tìm cách ngăn cản, áp lực, gây sức ép, nhiều đoàn tàu chở thực phẩm, gạo, nước ngọt, gia súc tới VN, có khi chỉ để giúp đỡ người dân miền Trung VN thường xuyên căng mình chịu thiên tai, lũ lụt, cũng bị hải quân Mỹ, Thủy quân Lục chiến Mỹ, Hạm đội 7 ngăn lại và bắt phải quay về, và đe dọa xa gần rằng sẽ "không bảo đảm an toàn cho quý vị nếu gặp hải tặc". Nhiều thông tin thời đó cho biết Mỹ - Trung còn giả dạng cướp biển hoặc báo tin, chỉ điểm, đứng sau, ủng hộ cho bọn cướp biển, bọn hải tặc Thái Lan đón đường, trấn lột, cướp bóc những đoàn tàu viện trợ nhân đạo này, với mục đích duy nhất là bao vây, cô lập, cấm vận, và dồn Việt Nam vào chỗ sụp đổ như Liên Xô, Đông Âu.

Nền kinh tế Việt Nam yếu kém, nhiều người dân phải xếp hàng nhận bo bo ăn thay cơm, bị Hoa Kỳ, Trung Quốc và phương Tây cấm vận, phải căng ra duy trì một lực lượng quân đội lớn ở cả phía Nam và phía Bắc, trong khi vẫn phải trả nợ những viện trợ của Liên Xô cho cuộc chiến chống Pháp, Mỹ. Sau khi Liên Xô tan rã và Việt Nam rút quân khỏi Campuchia, đến năm 1992 quan hệ giữa hai nước mới được bình thường hóa chính thức.

Sau khi thất bại tại Việt Nam, các phương tiện truyền thông đại chúng của Trung Quốc không còn nói gì nhiều về cuộc chiến này, cuộc chiến tranh này bị bưng bít hoàn toàn trong tất cả sách giáo khoa lịch sử ở Trung Quốc. Trong khi sách giáo khoa phổ cập trung học lớp 12 ở Việt Nam ngày nay vẫn ghi nhận rõ ràng: Quân xâm lược bành trướng Bắc Kinh đã tấn công toàn tuyến biên giới phía Bắc, và bộ đội, du kích ta đã chiến đấu anh dũng đánh đuổi chúng đi, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của chúng, đánh bại chủ nghĩa bá quyền nước lớn của Bắc Kinh.

Tại Trung Quốc, theo giáo sư Howard French trên báo New York Times số ngày 1 tháng 3 năm 2005, các phương tiện truyền thông Đại Lục, Hồng Kông, Ma Cao gần như lãng quên nó, các tuyển tập bài hát không còn dám in các ca khúc nói về cuộc chiến, sách nghiên cứu viết về cuộc chiến bị từ chối không dám xuất bản, đa số cựu chiến binh từng tham gia cuộc chiến buồn không muốn nhắc đến nó, không còn muốn nói về nỗi nhục bại trận này.

Sau khi rút quân về nước 1 tháng, theo bản dịch của ông Dương Danh Dy gởi tới BBC bài phát biểu của Đặng Tiểu Bình trong hội nghị nội bộ ngày 16/3/1979, Đặng Tiểu Bình đã phẫn nộ nói với các cộng sự và các lãnh đạo quân đội: "Đánh lần này vũ khí, quân số đều gấp mấy lần Việt Nam. Chiến đấu ở Cao Bằng chí ít là 5 đánh 1, 6 đánh 1. Chiến đấu ở Lạng Sơn, Lào Cai cũng đều gấp mấy lần, thậm chí 6 đánh 1, 7 đánh 1." và "Thương vong của chúng ta là 4 lần so với 1. Thần thoại của chúng ta đã bị hủy diệt." Điều này do chính người lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc thời đó đã thú nhận, càng cho thấy truyền thống "lấy ít địch nhiều", "lấy yếu thắng mạnh", “lấy thế thắng lực” của quân dân Việt Nam, nối tiếp từ những gương xưa trong các cuộc chiến chống Bắc xâm, chống ngoại xâm.

Tại Việt Nam, những nhạc phẩm, tác phẩm, sách báo, bài viết, bài nói, hồ sơ, tài liệu về cuộc chiến đó tuy không tái xuất bản nhưng vẫn được lưu hành ngoài thị trường chứ không bị thu hồi như ở Trung Quốc. Những bài hát sáng tác trong thời kỳ đó vẫn lưu hành. Sách "Sự thật quan hệ Việt Nam - Trung Quốc 30 năm qua" của NXB Sự thật, xuất bản năm 1979, hay sách “Tam giác Trung Quốc - Campuchia - Việt Nam” của Wilfred Burchett, NXB Thông tin Lý luận và nhiều sách cũ, truyện cũ, tiểu thuyết, truyện tranh, tuyển tập truyện ngắn, sử liệu, tư liệu v.v. có nội dung tương tự đến nay vẫn có lưu trữ trong một số thư viện nhà nước, bày bán trong một số nhà sách chính thức, hiệu sách hợp pháp.

Tuy nhiên, Việt Nam ít nhắc lại cuộc chiến 1 tháng này, hay nghiên cứu, hội thảo chuyên sâu, không tái bản những tác phẩm, nhạc phẩm, văn hóa phẩm về nó một phần là vì Việt Nam và Trung Quốc đã thỏa thuận là "không tuyên truyền chống nhau", một trong những điều kiện để bình thường hóa quan hệ hai nước năm 1992, phần khác là vì cuộc chiến chỉ kéo dài 1 tháng, không có nhiều diễn biến, sự kiện, hay hội chứng từ nó để nói như cuộc kháng chiến chống Pháp 9 năm và chống Mỹ 21 năm. Và chủ yếu là, theo giải thích nguyên văn của ông Dương Danh Dy, cựu Bí thư thứ nhất Đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh, thì Việt Nam: "Không nói lại chuyện cũ là vì nghĩa lớn, chứ không phải vì chúng ta không có lý, không phải vì người Việt Nam sợ hãi hay chóng quên". Một số hồ sơ, tài liệu, sử liệu về cuộc chiến này vì sự "lấy đại cuộc làm trọng" mà tạm cất vào kho, những nghiên cứu chuyên sâu, cao cấp về cuộc chiến này tạm gác lại, nhưng sau này khi hữu sự nó sẽ lại được bung ra.

Trong buổi Thông cáo báo chí năm 2009, khi được hỏi về cuộc chiến từ 30 năm trước, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói khỏa lấp rằng từ nhiều năm trước lãnh đạo hai nước đã "thỏa thuận khép lại quá khứ và mở ra tương lai" và từ chối bình luận gì về nó, rõ ràng, đây là một nỗi đau khó quên, một vết nhơ, một vết thương khó lành, một quốc nhục khó phai, khó nuốt, khó tiêu hóa trong lịch sử Trung Quốc và CHND Trung Hoa.

Cuối thập niên 1970, đầu thập niên 1980, nhà cầm quyền Trung Quốc giương cao chiêu bài “nhân quyền” của tổng thống Mỹ Jimmy Carter, lợi dụng vấn đề người Việt Nam xuất ngoại làm một vũ khí mới để chống Việt Nam. Những người Việt Nam đi ra nước ngoài một phần là những người giàu có và những sĩ quan trước đây sống nhờ Mỹ và chế độ bù nhìn Sài Gòn, có "dây mơ rễ má" với Mỹ-ngụy, quyền lợi của họ gắn liền với bộ máy chiến tranh của Mỹ, một phần những người Hoa do Bắc Kinh dụ dỗ, cưỡng bức ra đi; một số là những người trước đây sống trong xã hội tiêu thụ kiểu Mỹ và nay không chịu nổi những khó khăn do cuộc chiến tranh xâm lược 30 năm của Pháp - Mỹ và sự xâm lăng, phá hoại của bọn bành trướng Bắc Kinh và đàn em gây ra, phần lớn là những người không sống nổi trong tình hình xã hội và kinh tế hỗn loạn, nghèo đói thời đó, muốn tìm tới Mỹ và những nước giàu để có một cuộc sống kinh tế tốt hơn.

Thật ra ngay từ tháng 1 năm 1979, Chính phủ Việt Nam đã tuyên bố cho phép những người có nguyện vọng ra nước ngoài để sum họp gia đình hoặc làm ăn sinh sống được xuất cảnh một cách hợp pháp sau khi đã làm đầy đủ các thủ tục cần thiết. Mặt khác, các cơ quan có trách nhiệm của Việt Nam đã cùng cơ quan Cao ủy Liên Hiệp Quốc về vấn đề người tỵ nạn thỏa thuận một chương trình 7 điểm được công bố ngày 30 tháng 5 năm 1979, nhằm tạo điều kiện dễ dàng cho những người nói trên ra đi một cách có trật tự và an toàn, đồng thời làm giảm bớt khó khăn cho các nước Đông Nam Á.

Song Bắc Kinh và Washington đều huy động bộ máy tuyên truyền, truyền thông khổng lồ và mọi phương tiện chính trị, kinh tế, tài chính của họ, lợi dụng khía cạnh nhân đạo của vấn đề, sử dụng mọi thủ đoạn gian dối, xuyên tạc, kích động để bóp mép sự thật về vấn đề những người Việt Nam vượt biên, xuất cảnh, phát động những chiến dịch thông tin quy mô chống Việt Nam.

Vai trò của Mỹ - Trung trong sự kiện thuyền nhân

Việt Nam cũng có những thiếu sót, sai lầm trong thời hậu chiến, về chính sách, về cách làm, về chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao, văn hóa v.v., nhưng không nên quên rằng Mỹ đã tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược có tính chất hủy diệt chống Việt Nam, Nixon đã nhiều lần hô hào đòi “đưa Việt Nam về thời kỳ đồ đá”. Và sau khi bại trận, họ để lại một đất nước tàn phá, một nền kinh tế tê liệt, với trên 3 triệu người thất nghiệp, trên một triệu người bị tàn phế. Gần 800.000 trẻ em mồ côi, trên 600.000 gái mại dâm, trên 1 triệu thanh niên nghiện ma túy...

Trung Quốc thì "ném đá xuống giếng", "xát muối vào vết thương", gây ra “nạn kiều”, cưỡng ép, dụ dỗ người Hoa bỏ bê lao động, xây dựng, bỏ lại nhà cửa, ruộng đồng, nhà máy để đi Trung Quốc, dùng những tổ chức của Cục tình báo Hoa Nam để quấy rối về chính trị, đầu cơ, tích trữ, nâng giá hàng, in bạc giả, nhằm phá hoại nền kinh tế của Việt Nam, chồng chất thêm khó khăn cho người dân Việt Nam.

Trong lúc các cơ quan hữu quan của Việt Nam đang cùng Cơ quan Cao ủy LHQ về vấn đề người tỵ nạn, tổ chức việc ra đi có trật tự và an toàn, thì Bắc Kinh cho tay sai trà trộn vào dân tổ chức việc ra đi bất hợp pháp, gọi là "đi chui", móc nối với những cán bộ tha hóa, biến chất, bọn tham nhũng, chia rẽ và gây thù hận giữa người dân và chính quyền, công an, rồi kêu la rằng Việt Nam “xuất cảng nạn dân”, (rất nhiều người / nhóm tổ chức vượt biên trái phép thời đó là người Trung Quốc hoặc gốc Hoa, có người với động cơ phi chính trị, có người với động cơ chính trị) mặc dù chính họ cho hàng ngàn người Trung Quốc hàng ngày sang Hồng Kông để từ đó đi Singapore và các nước Đông Nam Á, và hoàn toàn bỏ rơi, không quan tâm đến số phận hơn 26.000 Hoa kiều tiến bộ, yêu hòa bình đã bị Khmer Đỏ trục xuất khỏi Campuchia. Lúc ấy có những chính phủ, tổ chức phương Tây vì không hiểu sự thật ở Việt Nam, hoặc vì mờ mắt trước thị trường kinh tế đang mở cửa đầy tiềm năng, muốn lấy lòng Trung Quốc để được TQ cho vào buôn bán làm ăn, đã a dua, phụ họa theo chiến dịch kích động và vu cáo của Mỹ - Trung.

Trung Quốc vẫn "liên Mỹ đả Việt", 2 chính phủ tiếp tục "vừa ăn cướp, vừa la làng", 2 kẻ có nhiều "thành tích" chà đạp nhân quyền và luật pháp quốc tế, 1 kẻ xâm lăng bành trướng khu vực, vi phạm nhân quyền nghiêm trọng trong "Cách mạng văn hóa", 1 kẻ xâm lược bành trướng toàn cầu, vi phạm nhân quyền nghiêm trọng ở VN và nhiều nước khác khắp Á - Phi, gây ra nhiều cuộc thảm sát thường dân, nhiều tội ác chiến tranh, nhiều tội ác diệt chủng chống nhân loại, lại giương cao chiêu bài "nhân quyền", “nhân đạo” để thực hiện mục đích chính trị của họ.

Mục đích của Mỹ là trả thù chính trị, vớt vát chút quốc thể, danh dự nước lớn, rằng đây là kết quả mà “mày” phải chịu khi dám chống “tao”, và cũng để phá hoại VN, một nước đang thân Liên Xô, kẻ thù Chiến tranh lạnh của Mỹ, có ý thức hệ và những lợi ích khác Mỹ. Mục đích của Bắc Kinh là xóa nhòa những tội ác của họ ở Campuchia và trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, che đậy việc họ kích động người Hoa ở Việt Nam ra đi và “xuất cảng” hàng chục vạn người Trung Quốc ra nước ngoài, gây khó khăn cho các nước ASEAN, chia rẽ các nước ASEAN với Việt Nam, đánh lạc hướng về nguy cơ của chủ nghĩa bành trướng nước lớn và chủ nghĩa bá quyền đại dân tộc, chủ nghĩa bá quyền Đại Hán, và vai trò của “đạo quân thứ 5” người Hoa ở châu Á.

Các thế lực đế quốc và bá quyền, chủ yếu là Washington và Bắc Kinh, đã thất bại trong âm mưu biến Hội nghị quốc tế ở Geneve tháng 7, 1979 về vấn đề người Đông Dương đi ra nước ngoài thành một diễn đàn để vu cáo và chửi bới Việt Nam. Những đề nghị của Đoàn đại biểu Chính phủ Cộng hòa XHCN Việt Nam tỏ rõ thái độ xây dựng và hợp tác trong việc giải quyết vấn đề những người di cư, đã được sự đồng tình rộng rãi của đại biểu nhiều quốc gia, và đã góp phần quan trọng vào thành công của Hội nghị là đặt được nền tảng của một giải pháp cho vấn đề như Tổng thư ký LHQ lúc đó đã kết luận. Nhưng thực tế còn nhiều khó khăn và phức tạp do những hoạt động phá hoại của Washington và Bắc Kinh.

Những năm sau chiến tranh, suốt từ giai đoạn 1979 - 1992 trong lúc Bắc Kinh lớn tiếng đe dọa chiến tranh, đòi “chủ quyền” đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, thì Mỹ - vốn đang thân Tàu, chống Việt - đã đưa Hạm đội 7 vào hoạt động ngoài khơi Việt Nam không những để khuyến khích những người di tản vượt biên bất hợp pháp, mà còn để phối hợp / giành giật với Bắc Kinh trong những âm mưu / lợi ích của họ ở khu vực Biển Đông và Đông Nam Á.

Những xuyên tạc của bọn phản động tay sai Mỹ

Chiến công đánh lui Trung Quốc xâm lược góp phần củng cố tư cách lãnh đạo của Đảng, khiến cho những tuyên truyền "Việt Cộng là tay sai Tầu Cộng", "Cộng sản Việt Nam bán nước cho thiên triều Bắc phương", "CSVN là đệ tử của quan thầy Chệt đỏ" trở thành buồn cười, trơ trẽn và vô nghĩa. Do đó, lâu nay họ cố ý lờ đi, tránh nói về cuộc chiến này. Tuy nhiên lịch sử thì khó thể tránh né, nên khi buộc phải đề cập tới chủ đề này thì họ thường có những xuyên tạc như sau: "Trung Cộng trừng phạt Việt Cộng", họ xem sự kiện "Tàu Cộng đánh Việt Cộng" là một điều gì đó thích thú để họ hả hê, hả dạ và đứng ngoài cười cợt, chế giễu, lườm nguýt với thái độ rất tiểu nhân. Họ rập khuôn, đồng tình, và nhái theo luận điệu chính thức của Trung Quốc về cuộc chiến, rằng "Trung Cộng thắng Việt Cộng", "Trung Cộng dạy cho VC một bài học nên thân" v.v. Rập khuôn và hót theo luận điệu bao đời nay của vua quan phong kiến Trung Quốc, lần nam chinh, xuất chinh nào thua về cũng đều "chiến thắng", "khải hoàn", hoặc thua nặng thì cũng nói thành "trừng phạt xong nên về", "giặc gian trá, ta tha cho giặc nên rút về".

Họ tự biến mình thành người Tàu, nhìn nhận theo góc độ, quan điểm của Tàu, đem Tàu đặt làm trung tâm, nên thay vì nhìn thấy Việt Nam thắng Trung Quốc, đánh lui hơn 50 vạn quân Trung Quốc, thì họ chỉ thấy "Trung Cộng dạy Việt Cộng bài học", "Trung Cộng trừng phạt VC", "cuộc chiến răng cắn môi chảy máu", "đáng đời Vi Xi", "đáng kiếp cộng sản" v.v.

Tương tự, về công hàm xã giao của ông Phạm Văn Đồng vốn không nói gì đến Hoàng Sa và cho biết sẽ tôn trọng 12 hải lý của Trung Quốc, công hàm sau khi bị Trung Quốc diễn giải xuyên tạc theo lợi ích của họ, từ tham vọng, dã tâm độc chiếm Biển Đông của họ, thì những phần tử phản động người Việt đã rập khuôn luận điệu xuyên tạc này của Trung Quốc, a dua, phụ họa với tuyên bố chính thức của Trung Quốc, hùa theo hành động xuyên tạc để bành trướng và cướp đảo của Trung Quốc, tự biến bản thân thành người Trung Quốc, phục vụ cho lợi ích của Trung Quốc.

Ngoài ra, họ còn xuyên tạc Việt Nam chống Trung Quốc là chống cho Liên Xô, rằng VN là "tay sai" của Nga Xô, Nga Cộng. Trong khi thực binh Liên Xô không tham gia chiến sự, viện trợ của LX là có giới hạn và có hoàn lại (về sau mới được Liên bang Nga xóa nợ sớm). Liên Xô chỉ giúp Việt Nam chống Trung Quốc trên mặt trận ngoại giao, truyền thông, tuyên truyền, giúp VN chuyển quân một vài lần, các lực lượng lục quân và không quân của họ đều án binh bất động, hải quân của họ không có động thái gì đáng kể. Liên Xô không có quyền tiến hành chiến tranh trên lãnh thổ Việt Nam.

Bỉ ổi, vô liêm sỉ hơn nữa là họ xuyên tạc rằng Quân đội Nhân dân Việt Nam đã “giả dạng Khmer Đỏ gây ra cuộc thảm sát Ba Chúc" để kiếm cớ "xâm lược" Campuchia. Họ tự biến bản thân thành tay sai, săn, con vẹt của Khmer Đỏ và Trung Quốc, tình nguyện làm một cái loa rè cho bọn diệt chủng và bành trướng. Nhưng họ tuyên truyền còn bỉ ổi, điên rồ hơn cả bọn diệt chủng Pol Pot và bọn bành trướng Bắc Kinh. Ngay cả bọn diệt chủng và bọn bành trướng cũng không "gắp lửa bỏ tay người" vô sỉ tới mức độ như thế. Đây là tuyên truyền của những kẻ phản động trình độ thấp, tư chất kém và vô văn hóa, kém giáo dục, chứ ngay cả Mỹ, Khmer Đỏ, Bắc Kinh lúc ấy (và sau này) cũng không ai tuyên truyền phản tác dụng, phản văn hóa, và xuẩn động đến như vậy.

Họ không đủ IQ trung bình để hiểu rằng lúc đó Việt Nam vừa mới vượt qua một thời kỳ chiến tranh dài nhất trong lịch sử dân tộc, và một trong những thời kỳ chiến tranh dài nhất trong lịch sử thế giới, gần 2 thế kỷ binh đao khói lửa, bị chiến tranh, bị bom Mỹ, bị chất độc hóa học của Mỹ tàn phá tới mức nào, vừa qua khỏi 2 cuộc kháng chiến gian khổ, đầy hy sinh chết chóc, Mỹ ra đi để lại một Việt Nam đổ nát, hoang tàn, người VN phải xây dựng lại đất nước từ một đống đổ nát, thì làm sao còn hơi sức nào, tinh thần nào để muốn có chiến tranh với bọn quá khích cuồng đồ Khmer Đỏ, bọn "cùi không sợ lở" Pol Pot liều mạng có Trung Quốc chống lưng, hậu thuẫn, còn tâm hồn nào để mà ham muốn chiến tranh, để mà "dây với hủi"?

Giả sử Việt Nam muốn chiến tranh với Khmer Đỏ thì không cần có cuộc Thảm sát Ba Chúc cũng quá thừa nguyên nhân, có quá nhiều lý do, danh nghĩa khác để đánh vào Campuchia tiêu diệt bè lũ Khmer Đỏ. Pol Pot đã xâm lược vào lãnh thổ Việt Nam, giết chóc người dân và đốt phá làng mạc Việt Nam trong những năm 1975-1978, giết hại, diệt chủng Việt kiều và người Campuchia. Gây ra nhiều tội ác diệt chủng, tội ác chống nhân loại.

Ngay sau khi Việt Nam hoàn toàn giải phóng, ngày 4 tháng 5 năm 1975, quân đội Khmer Đỏ đột kích đảo Phú Quốc, 6 ngày sau đánh chiếm và hành quyết hơn 500 dân thường ở đảo Thổ Chu. Tiếp theo cuộc đột kích vào các đảo Thổ Chu và Phú Quốc, bên cạnh nhiều cuộc đột kích nhỏ, Khmer Đỏ đã tiến hành 2 cuộc xâm lược quy mô lớn vào Việt Nam. Cuộc tấn công lớn đầu tiên diễn ra vào tháng 4 năm 1977, quân chính quy Khmer Đỏ tiến sâu 10 km vào lãnh thổ Việt Nam, chiếm một số vùng ở tỉnh An Giang và tàn sát một số lớn dân thường. Cuộc tấn công thứ hai diễn ra vào ngày 25 tháng 9 cùng năm, lần này 4 sư đoàn quân chủ lực Khmer Đỏ đánh chiếm nhiều điểm ở các huyện Tân Biên, Bến Cầu, Châu Thành (tỉnh Tây Ninh), đốt phá 471 ngôi nhà, làm gần 800 người dân bị giết, bị thương hoặc mất tích. Sau khi đánh lùi quân giặc, Việt Nam đề nghị một giải pháp ngoại giao nhằm thiết lập một vùng phi quân sự dọc biên giới, nhưng Pol Pot cự tuyệt và giao tranh tiếp diễn.

Ngày 1 tháng 2 năm 1978, Pol Pot họp bàn chủ trương chống Việt Nam và quyết định thành lập 15 sư đoàn. Trong nghị quyết của họ có ghi: "Chỉ cần mỗi ngày diệt vài chục, mỗi tháng diệt vài ngàn, mỗi năm diệt vài ba vạn thì có thể đánh 10, 15, đến 20 năm. Thực hiện 1 diệt 30, hy sinh 2 triệu người Campuchia để tiêu diệt 50 triệu người Việt Nam". Pol Pot đã điều 13 trong số 17 sư đoàn chủ lực và một số trung đoàn địa phương liên tục tấn công vào lãnh thổ Việt Nam, có nơi vào sâu tới 15-20 km.

Ngày 13 tháng 12 năm 1978, được sự trang bị, huấn luyện, cố vấn và chống lưng của Trung Quốc, Khmer Đỏ đã huy động 10 trong 19 sư đoàn tiến công xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới Tây Nam. 3 sư đoàn đánh vào Bến Sỏi với mục tiêu chiếm thị xã Tây Ninh, 2 sư đoàn đánh vào Hồng Ngự (Đồng Tháp), 2 sư đoàn đánh khu vực Bảy Núi (An Giang), 1 sư đoàn đánh Trà Phô, Trà Tiến (Kiên Giang). Tại những vùng chiếm đóng, Khmer Đỏ đã thực hiện chính sách diệt chủng đối với người Việt, như đã làm với người Khmer. Trùm khủng bố Pol Pot công khai tuyên bố chủ quyền lên trên nhiều lãnh thổ của Việt Nam, trong đó có đảo Phú Quốc, Thổ Chu, và hoang đường ở nữa là hô hào đánh tới Thành phố Hồ Chí Minh, tuyên bố chủ quyền lên trên TPHCM, xuyên tạc rằng Sài Gòn trước đây là của họ. Tuyên truyền bóp méo rằng: "Nơi nào có cây thốt nốt thì nơi đó là lãnh thổ của Campuchia."

Trong xã hội Campuchia dưới sự "lãnh đạo" của Pol Pot và Khmer Đỏ, họ chủ trương xây dựng một xã hội không trường học, không tiền bạc, không chợ búa, người đẹp phải lấy người xấu trong những cuộc hôn nhân sắp đặt, cưỡng bách. Họ cho rằng đó là vì sự "công bằng xã hội", "cân bằng sinh học".

Trẻ em Campuchia thì bị đào tạo thành những cỗ máy sát nhân, trẻ em 5 tuổi đã được luyện hành hạ thú vật, gia súc, và con người, lớn lên một chút thì được luyện giết người, luyện cho các em quen dần với cảm giác giết chóc, tra tấn, bắn giết, phá hoại, hủy diệt, cảm giác "say máu".

Trí thức thì trở thành đối tượng đều tiêu diệt tận gốc rễ, và tiêu chí để nhận biết ai có phải là "trí thức" hay không đó là sự đeo kính, bất kỳ ai đeo mắt kính thì đều là "trí thức" và bị hành quyết. Một tiêu chí khác nữa là xem bàn tay, dù ai đó không bị cận thị, không đeo kính, nhưng nếu bàn tay mịn màng, sạch sẽ, đẹp đẽ, không thô kệch, không dơ dáy, không có dấu hiệu của việc lao động tay chân cơ bắp thì sẽ bị coi là "lười lao động", "biếng nhác", "con nhà giàu", "trí thức" v.v. và nhẹ thì bị chặt ngón tay, vừa thì bị chặt nhiều ngón tay, chặt bàn tay, cánh tay, nặng thì bị giết.

Pol Pot cai trị độc tài khát máu và man rợ như một tù trưởng của các bộ lạc ăn thịt người thời thượng cổ hay một bạo chúa chuyên tru di cửu tộc, ngũ mã phanh thây thời trung cổ. Ông ta giết sạch bất kỳ ai dám lên tiếng phản đối, vu cho là "theo Việt Nam", "theo Liên Xô", "kẻ phản bội" v.v. Triệt hạ, thanh trừng nội bộ bằng nhiều hình thức khác nhau, bắt cóc, ám sát (bắn lén, đập chết, đầu độc, chích thuốc độc, trói hoặc bỏ vào bao rồi thả xuống sông cho chết đuối), khủng bố, hành quyết v.v. 

Với những thực tế khách quan như thế, thì Việt Nam có cần cuộc Thảm sát Ba Chúc để lấy cớ đánh Khmer Đỏ hay không?

Tổng kết

Trong lịch sử hiện đại, Trung Quốc đã 3 lần phản bội nhân dân Việt Nam:

1. Tại Hội nghị Genève năm 1954, họ mưu đồ bán rẻ lợi ích của nhân dân Đông Dương, không những để bảo đảm cho nước họ một vành đai an ninh ở phía Nam, mà còn chuẩn bị địa bàn cho việc thực hiện mưu đồ bành trướng ở Đông Dương và Đông Nam Á. Họ muốn duy trì tình trạng Việt Nam bị chia cắt lâu dài, hòng làm cho Việt Nam suy yếu và phải nhờ vả Trung Hoa.

2. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu quốc, sau khi chế độ Ngô Đình Diệm bị Mỹ "vắt chanh bỏ vỏ", "thay ngựa giữa dòng" thì họ xúi Mỹ ném bom miền Bắc Việt Nam và ủng hộ Mỹ đưa gần 60 vạn quân vào trực tiếp xâm lược Việt Nam để ngăn cản cách mạng miền Nam mở rộng tiến công, phát triển vùng giải phóng, và phá "Ấp Chiến Lược", làm chùn bước phong trào kháng chiến ở miền Nam. Sau những sự đàm phán với thực dân Pháp - Mỹ trên lưng Việt Nam năm 1954 trong Hội nghị quốc tế Genève, thì trong Hội nghị Paris, VN rút kinh nghiệm không cho TQ vào đàm phán, Việt Nam muốn đàm phán với Hoa Kỳ, để cho Mỹ rút quân trong danh dự trong Hội nghị Paris, tận dụng mặt trận ngoại giao để chống Mỹ thì TQ liên tục bàn lùi, bàn ra. Khi Việt Nam đang trên đà đi tới thắng lợi hoàn toàn thì họ "liên Mỹ đả Việt" (聯美打越), bắt tay với chính quyền Nixon.

3. Sau khi quân đội Việt Nam giải phóng hoàn toàn miền Nam khỏi ách thống trị thực dân mới của Mỹ và thống nhất nước nhà, họ đã dùng mọi thủ đoạn chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao để làm suy yếu nước CHXHCN Việt Nam, tiến đến dùng lực lượng quân sự của bè lũ cực đoan quá khích ở Campuchia xâm lược Việt Nam từ phía Tây Nam, và đem trên 50 vạn quân trực tiếp xâm lược Việt Nam ở phía Bắc, phá hoại nghiêm trọng các cơ sở kinh tế, văn hóa của Việt Nam ở những vùng giao tranh, vùng tạm chiếm. Mưu toan dùng con bài chính trị Hoàng Văn Hoan, thông qua ngụy quyền để chiếm đóng lâu dài, thực hành chính sách thực dân mới như đế quốc Mỹ trước đây, âm mưu lấn chiếm, cướp giật đất đai, lãnh thổ, mưu đồ nhổ đi cái gai Việt Nam, dùng đất Việt làm bàn đạp, từng bước bành trướng xuống Nam.

Đây là chân dung, chân tướng của người hàng xóm khổng lồ, vừa đểu giả vừa phức tạp, vừa to xác vừa "thâm nho", mà Việt Nam phải tận lực đề phòng, đề cao cảnh giác. Chơi thì chơi, "anh em" thì "anh em", nhưng không bao giờ được thật lòng với họ, và luôn phải cảnh giác như hàng ngàn năm qua.

Thiếu Long

Tài liệu tham khảo

Việt Nam

- Lịch sử Sư đoàn 3 Sao vàng, Nhà xuất bản Quân Đội Nhân Dân, năm xuất bản: 1980
- Cuộc chiến tranh bắt buộc, Đại tá Nguyễn Văn Hồng, Nhà xuất bản Bến Tre, Thành phố Hồ Chí Minh, 2004
- Binh đoàn Hương Giang, Sư đoàn Sông Lam, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội 1984
- Sư đoàn 7, Quân đoàn Cửu Long, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội 1985
- Sư đoàn 303, Đoàn Phước Long, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội 1989
- Lịch sử không quân Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội 1993
- Ký sự chiến tranh - Nhiều tác giả - NXB Văn Học, 2006
- Văn kiện: Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc 30 năm qua, NXB Sự Thật, Năm xuất bản: 1979
- Không được đụng tới Việt Nam – Nhà xuất bản Quân Đội – Năm xuất bản: 1979

- Một số bài tham luận, trả lời phỏng vấn, bài nói chuyện của nguyên Bí thư thứ nhất Tòa đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Dương Danh Dy, và một số bản dịch của ông về những tài liệu, hồ sơ, tham luận, phát biểu, bản báo cáo tổng kết hội thảo của người Trung Quốc.

Quốc tế

- Edward C. O'dowd (2007). Chinese Military Strategy in the Third Indochina War. Rutledge
- King C. Chen (1987). China's War with Vietnam, 1979: Issues, Decisions, and Implications. Hoover Press
- Nguyen Huu Thuy (1979). Chinese Aggression: How and Why it failed. NXB Ngoại ngữ.
- Carlyle A. Thayer, Security Issues in Southeast Asia: The Third Indochina War, Conference on Security and Arms Control in the North Pacific, Australian National University, Canberra, August 1987
- Nayan Chanda (1986). Brother Enemy. The War after the War.. Harcourt Brace Jovanovich
- François Joyaux (1994). La Tentation impériale - Politique extérieure de la Chine depuis 1949. Paris: Imprimerie nationale.
- Bùi Xuân Quang (2000). La troisième guerre d'Indochine, 1975-1999 sécurité et géopolitique en Asie. Harmattan.
- Spencer Tucker (January 13, 2005). Vietnam. USA: Henry Holt and Co.; 1st edition
- Ben Kiernan (August 19, 2008). 'The Pol Pot Regime: Race, Power, and Genocide in Cambodia under the Khmer Rouge, 1975-79'. Yale University Press; 3rd edition
- Elizabeth Becker (1998). When the war was over: Cambodia and the Khmer Rouge revolution. Public Affairs.
- Chiến tranh Đông Dương III, Hoàng Dung, Nhà xuất bản Văn Nghệ Califonia USA, 2000
- Red Brotherhood at war - Chân lý thuộc về ai - Tác giả: Grant Evans - Kelvin Rowley - Người dịch: Nguyễn Tấn Cưu - Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân - Năm xuất bản: 1986
- Hành trình qua cánh đồng chết - Chanrithy Him - Dịch giả: Mịch La - Agence France Press, 1969
- Tam giác Trung Quốc - Campuchia - Việt Nam, Wilfred Burchett, NXB Thông tin Lý luận
- Hồi ký: Giọt nước trong biển cả, Hoàng Văn Hoan, Tự xuất bản, Năm xuất bản: 1987
- 40 năm diễn biến quan hệ Trung - Việt, Quách Minh chủ biên, NXB Nhân dân Quảng Tây (Trung Quốc), Năm xuất bản: 1992
- Phim tài liệu: Những năm tháng máu và hoa, Tập 1-5, Việt Nam và Campuchia hợp tác sản xuất

- Tài liệu Internet


Chiến tranh năm 1979 và cuộc đấu trí cân não giữa Trung Quốc - Việt Nam - Hoa Kỳ (kỳ 4)



"Đạo quân thứ 5" của Trung Quốc

Theo "truyền thống" ăn không nói có, đổi trắng thay đen, gắp lửa bỏ tay người, vừa ăn cướp vừa la làng, bóp méo xuyên tạc v.v., Trung Quốc ráo riết tuyên truyền bêu xấu, kể tội Việt Nam trong binh lính và dân chúng của họ, biện minh, lấp liếm bản chất phi nghĩa của cuộc chiến, và rêu rao về "chính nghĩa" của họ trong cuộc chiến “thảo phạt”, tấn công Việt Nam.

Ngay từ trước khi quân Trung Quốc vượt biên giới đánh vào Việt Nam, Trung Quốc đã xuyên tạc tố cáo Việt Nam là khiêu khích, là gây hấn khắp vùng biên giới. Theo bịa đặt của Trung Quốc, quân Việt Nam đã tiến hành "1100 vụ" xâm nhập biên thùy. Trong khi sự thật là lính biên phòng Trung Quốc khiêu khích hàng ngày, thường xuyên nổ súng về phía Nam. Sự gây sự này của Trung Quốc làm cho tình hình biên cương luôn căng thẳng và những vụ đấu súng tại biên giới giữa 2 bên cũng tăng lên, từ khoảng 100 vụ năm 1974 lên tới hơn 900 vụ năm 1976. Việc Trung Quốc đi đêm với Kissinger, dùng vũ lực chiếm Hoàng Sa năm 1974, cũng như việc Việt Nam đưa quân giải phóng Trường Sa từ tay Mỹ cũng góp phần khiến cho Trung Quốc bức xúc, cay cú.

Trung Quốc nhồi sọ người dân và đánh lừa dư luận thế giới rằng đây là cuộc chiến "phản công", “phản kích”, “tự vệ”, chống Việt Nam là để "bảo vệ lãnh thổ quốc gia", rằng chiến dịch quân sự này được tiến hành để "trừng phạt", “trừng trị” nhà cầm quyền Việt Nam, cụ thể là "bè lũ Lê Duẩn", và rằng quân đội cần giành được sự ủng hộ của nhân dân Việt Nam (?). Chiến dịch vận động, lôi kéo, dụ dỗ, mua chuộc của Trung Quốc có kết quả với dân chúng và cán bộ Trung Quốc tại vùng biên, khiến họ có thể huy động hàng chục vạn dân công tham gia các hoạt động bảo đảm an ninh và tiếp tế cho quân đội.

Đối với dân thường ở Việt Nam, Trung Quốc bỏ ra nhiều công sức tuyên truyền lôi kéo người dân vùng biên, đặc biệt là với các dân tộc thiểu số sống vắt qua biên giới hai nước như Tày, Nùng (ở Trung Quốc gọi là dân tộc Choang), Dao, Hmong và các nhóm người thiểu số gốc Hoa. Móc nối, liên lạc, sắp đặt, an bài kế hoạch với bọn thám báo, bọn gián điệp nằm vùng đã được TQ cài cắm sẵn, len lỏi vào trong dân.

Kết quả là trong ngày đầu của cuộc chiến, có nơi quân Trung Quốc đã được dẫn vòng qua đồn biên phòng tiến sâu vào đất Việt Nam mà không bị phát hiện. Phục vụ công tác mua chuộc, dụ dỗ, lừa gạt dân chúng tại các khu vực chiến sự, Trung Quốc còn thành lập các đơn vị đặc biệt mà nhiệm vụ chủ yếu là tổ chức cũng như kiểm tra hoạt động của các đội "dân vận" trong tất cả các đơn vị quân. Theo đó, quân Trung Quốc tiến sang Việt Nam phải kỷ luật, phải giảm tối thiểu những hành động gây xáo trộn, phiền hà đến dân chúng, tôn trọng phong tục tập quán, tài sản, cung cấp gạo, muối, dầu thắp, thuốc chữa bệnh... cho dân cư bản địa.

Chính sách mị dân thâm độc này được một số đơn vị Trung Quốc ở vùng Lào Cai thực hiện. Theo sử gia Edward C. O’Dowd, trong sách "Chinese Military Strategy in the Third Indochina War", ông trích lại tài liệu của Trung Quốc, cho biết đơn vị 56041 (một trung đoàn bộ binh của Sư đoàn 149, Quân đoàn 13, Quân khu Thành Đô) tại Lào Cai và đơn vị 33762 (một trung đoàn thuộc quân khu Vũ Hán) đã thực hiện rất thành công chính sách mị dân này, thành công dối gạt, đánh lừa được một bộ phận cư dân, đặc biệt các dân tộc ít người.

Tuy nhiên, sau khi thua trận, Trung Quốc không còn nhu cầu mị dân nữa, thì họ không còn dùng "đạo quân thứ 5" để lung lạc nhân tâm, trấn an dân chúng nữa mà họ cay cú, cáu tiết, chuyển sang phá hoại toàn bộ, trên đường về nước họ đã thực hiện nhiều hành động giết dân làng, đốt phá, cướp đoạt gia súc, vô kỷ luật, không khác gì một đám sơn tặc, mã tặc, quân phỉ, quân phiệt.

Ngoài việc cướp bóc vô kỷ luật thì Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã phá hủy các cơ sở hạ tầng, các công trình xây dựng một cách có hệ thống, với mục đích đánh vào nền kinh tế đang lao đao, khủng hoảng của Việt Nam. Hầu hết các thị xã thị trấn mà Trung Quốc chiếm được đều bị phá hủy một cách có hệ thống. Tại thị xã Cao Bằng, quân Trung Quốc dùng thuốc nổ phá sập bất cứ công trình gì từ công sở đến bưu điện, từ bệnh viện đến trường học, từ chợ đến cầu.

Tại Đồng Đăng, quân lính Trung Quốc hiện rõ nguyên hình là một bọn phỉ quân, lưu manh, côn đồ, cướp cạn, khi họ lấy đi tất cả những gì có thể mang theo, từ xe đạp cho đến thanh ray tàu hỏa, những gì không mang được đều bị đập phá theo tư tưởng "ăn không được thì đạp đổ, phá cho hôi". Tại thị xã Cam Đường trên bờ sông Hồng, cách biên giới khoảng 10km, ngoài việc phá hủy thị xã, quân Trung Quốc còn cho đốt cả mỏ apatit, cướp tài nguyên không được thì phá tài nguyên.

Giáo sư sử học O'Dowd tổng kết là chính sách mị dân của quân đội Trung Quốc và "đạo quân thứ 5" của họ đã không thành công đối với quân và dân Việt Nam. Ông lý giải rằng "người Việt Nam rất yêu nước, thấm nhuần tư tưởng chính trị, giỏi chịu đựng, không dễ bị lung lạc,..." Ngoài ra, những hành động tàn phá, giết chóc dân thường, cũng như ngược đãi tù binh của quân Trung Quốc đã gây hại cho nỗ lực mị dân của họ. Những hoạt động này một phần là do binh lính Trung Quốc sang Việt Nam bị sốc vì sự khốc liệt, sức kháng cự của quân đội Việt Nam cũng như sự bất hợp tác, xa lánh, chống đối của dân bản xứ, một phần nằm trong các phá hoại có kế hoạch và tổ chức, ví dụ như tại thị xã Lạng Sơn. Hoạt động lôi kéo người thiểu số tại biên giới của Trung Quốc cũng không đạt được kết quả mong đợi. Khi quân Trung Quốc từ quân khu Vân Nam rút về nước, tất cả những điệp viên và quân du kích người thiểu số, các nhóm "đạo quân thứ 5" mà họ xây dựng được đều bị lực lượng an ninh Việt Nam bắt giữ và xử tử, trừ khử hoàn toàn.

Chiến tranh tâm lý của Trung Quốc với các lực lượng phòng thủ của Việt Nam cũng thất bại thảm hại. Trong suốt cuộc chiến, tất cả các đơn vị của Việt Nam đều đánh trả quyết liệt quân Trung Quốc xâm lược. Quân Trung Quốc cuối cùng cũng hiểu rằng ngoài việc sử dụng sức mạnh quân sự thuần túy, họ không có khả năng giành thắng lợi trong chiến tranh tuyên truyền chính trị.

Phản ứng quốc tế trong cuộc chiến

Ngay trong khi Trung Quốc bắt đầu xâm lăng Việt Nam, Hoa Kỳ tuyên bố rằng ta đây "trung lập", kêu gọi chung chung, phát biểu nước đôi, ba phải, áp dụng tiêu chuẩn kép, chơi trò hai mặt. Họ thường xuyên kêu gào về "sự rút quân lập tức của Việt Nam khỏi Campuchia và Trung Quốc khỏi Việt Nam", ngụ ý ám chỉ rằng "việc Trung Quốc xâm lược Việt Nam là sự tiếp nối của việc Việt Nam xâm lược Campuchia", họ đánh tráo khái niệm, đánh đồng bản chất 2 cuộc chiến tranh, vàng thau lẫn lộn, xuyên tạc bóp méo.

Theo giáo sư sử học Nayan Chanda trong sách "Brother Enemy, The War after the War", NXB Harcourt Brace Jovanovich xuất bản năm 1986 và nhiều trí thức, chuyên gia, nhà nghiên cứu khác thì Hoa Kỳ chính là quốc gia duy nhất trên thế giới gần như ủng hộ công khai cuộc xâm lược Việt Nam của Trung Quốc; trái với lời lên án việc Việt Nam tiến đánh Khmer Đỏ là "một mối đe dọa cho hòa bình và ổn định", tuyên bố của Mỹ về cuộc xâm lăng của Trung Quốc có hàm ý bào chữa rằng "việc Trung Quốc tấn công Việt Nam là kết quả của việc Việt Nam xâm lược Campuchia", "Việt Nam ráng chịu", "Việt Nam gieo gió gặt bão". Ngoài Hoa Kỳ thì đa số các quốc gia trên thế giới đều phản đối mạnh mẽ hành động thô bạo của Trung Quốc, sự cô lập này đã ảnh hưởng khá lớn tới chính sách ngoại giao bước đầu mở cửa của Bắc Kinh khi đó.
Đặng và Carter

Ngày 18 tháng 2 năm 1979, Liên Xô viện dẫn hiệp định ký với Việt Nam, kêu gọi Trung Quốc "ngừng trước khi quá muộn" và yêu cầu Trung Quốc rút quân lập tức và toàn bộ. Trong thời gian xảy ra cuộc chiến, Liên Xô đã lên án cuộc tấn công của Trung Quốc là "hành động man rợ bất chấp đạo lý của kẻ cướp", đòi Trung Quốc lập tức chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược này, và cảnh báo Trung Quốc về lòng trung thành của Liên Xô đối với hiệp ước quân sự Xô - Việt.

Ngoài những tuyên bố mạnh mẽ và đanh thép, Liên Xô không có hành động trợ giúp quân sự nào đáng nói, mà chỉ hỗ trợ vận chuyển bằng hàng không và triển khai hải quân ngoài bờ biển Việt Nam, họ nhu nhược, e ngại, sợ “mất cầu”, sợ đổ vỡ quan hệ vốn đã căng thẳng với Trung Quốc.

Liên Xô cũng cảnh báo Trung Quốc về việc đặt các lực lượng vũ trang Liên Xô ở Siberia vào tình trạng báo động đồng thời cung cấp cho Việt Nam một số thông tin quân sự thu được từ vệ tinh do thám. Bản thân Việt Nam cũng từ chối sự tham gia của các phi công Liên Xô vào các trận đánh.

Cuba cảnh báo Trung Quốc là nước này sẽ hỗ trợ Việt Nam, kể cả việc đưa quân đến nếu cần. Chủ tịch Cuba Fidel Castro đã nói câu nổi tiếng: "Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình!" Sau khi biết tin Trung Quốc rút quân, nhật báo Pravda của Liên Xô cũng đưa ra biện luận rằng: Liên Xô hiểu được dã tâm của Bắc Kinh vì vậy đã không đáp lại những khiêu khích quân sự của Trung Quốc với mục đích duy nhất là làm leo thang căng thẳng giữa Liên Xô và Hoa Kỳ.

Tại Liên Hiệp Quốc, tranh cãi kịch liệt xảy ra xung quanh vấn đề an ninh Đông Nam Á. Hai sự kiện Việt Nam tiến vào Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng Khmer Đỏ và Trung Quốc đánh vào Việt Nam cùng được đưa ra bàn luận. Hội đồng Bảo An LHQ bị chia rẽ sâu sắc sau các cuộc họp vào các ngày cuối tháng 2. Mỹ thì vẫn hùa theo Bắc Kinh nhai đi nhai lại một điệp khúc: Yêu cầu Việt Nam ngưng ngay lập tức hành động xâm lược Campuchia và rút quân toàn bộ và vô điều kiện ra khỏi Campuchia.

Ông Lê Duẩn khi trả lời phỏng vấn trong họp báo quốc tế đã phát biểu đanh thép, hùng hồn: "Tình hình ở Campuchia là không thể đảo ngược!" Đáp trả lại đòi hỏi vô lý của Hoa Kỳ, Bộ ngoại giao Việt Nam cũng tuyên bố thẳng: Nếu muốn Việt Nam rút quân khỏi Campuchia thì tất cả các lực lượng quân sự nước ngoài trong khu vực đều phải rút quân về nước, trong đó có quân đội Trung Quốc, Hạm Đội 7 và các căn cứ quân sự của Mỹ ở Đông Nam Á, không làm được thì đừng áp đặt Việt Nam phải đơn phương rút quân một mình. Nếu rút thì cùng nhau rút hết.

Liên Xô thì đứng về phía đồng minh Việt Nam, tuyên bố không ủng hộ bất cứ nghị quyết nào mà không lên án Trung Quốc, và kêu gọi Trung Quốc rút quân. Ngày 23 tháng 2 năm 1979, Liên Xô cùng Tiệp Khắc đưa dự thảo nghị quyết trong đó lên án Trung Quốc xâm lược, đòi Trung Quốc rút quân và bồi thường chiến tranh, và vận động cấm vận vũ khí đối với Trung Quốc. Còn Trung Quốc thì chỉ trích Liên Xô "khuyến khích Việt Nam tấn công Trung Quốc và xâm lược Campuchia". Ngày 24 tháng 2, Trung Quốc đưa dự thảo nghị quyết đòi Việt Nam "lập tức rút quân hoàn toàn khỏi Campuchia". Cuối cùng, Liên Hiệp Quốc không đi đến được một nghị quyết nào.

Trong lúc cuộc chiến còn đang giằng co, thì Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ bất chợt đem một số chiến hạm chở những Đội đặc nhiệm tiến vào Biển Đông để phô trương thanh thế và muốn gián tiếp tiếp ứng cho Trung Quốc bằng cách "xù lông" uy hiếp, gây sức ép quân sự thêm cho VN ở phía Nam, và dùng kế nghi binh khiến VN hoang mang, lo lắng sợ Mỹ quay lại, muốn VN lo ngại không dám điều quân từ miền Nam ra miền Bắc.

Đối với Trung Quốc thì Hoa Kỳ tỏ ra hành động này là "giúp đỡ" gián tiếp cho Trung Quốc, làm theo sự yêu cầu trợ giúp, hậu thuẫn của Trung Quốc, nhưng bên trong thực chất Hoa Kỳ cũng hy vọng nếu như Trung Quốc thắng thì họ sẽ nhảy vào chia chác / tranh giành lợi ích với Trung Quốc, nhưng do hải quân Liên Xô đã triển khai, nhiều tàu chiến Liên Xô, được sự cho phép của Việt Nam, đã tích cực hoạt động ngăn chặn tàu Mỹ ở Biển Đông, hạn chế phần nào hoạt động của tàu chiến Mỹ. Sau đó do sợ leo thang căng thẳng, xung đột với đối thủ Chiến tranh Lạnh Liên Xô, lại thấy tình hình chiến sự ở miền Bắc VN bất lợi cho Trung Quốc, nên Mỹ lảng vảng khoảng 2 tuần rồi đành phải rút đi.

Sự kiện này cho thấy sự giúp đỡ có hiệu quả trong việc giúp Việt Nam bảo vệ Biển Đông của Liên Xô trong cuộc chiến. Và cho thấy mặc dù Mỹ - Trung cùng chung một chiến tuyến, nhưng hai bên không thật lòng với nhau, mà mỗi bên đều có những dụng ý riêng, toan tính riêng, mưu mô khác nhau, và đều vì cái lợi của chính mình.

Kết quả

Tuy Việt Nam đã chiến thắng, gây tổn hại nặng nề cho quân đội Trung Quốc, thành công đẩy lui giặc xâm lược, và Trung Quốc đã thua to về quân sự, chính trị, chiến thuật, chiến lược, nhưng trong cuộc chiến Việt Nam cũng chịu thiệt hại nặng nề về người và của. Cuộc xâm lấn của Trung Quốc đã để lại nhiều tác hại lớn cho kinh tế và xã hội Việt Nam. Ngoài những thương vong về con người, thiệt hại cụ thể về cơ sở vật chất hạ tầng ở 6 tỉnh biên giới bị phá hủy do trận chiến, Việt Nam còn phải gánh chịu nhiều khó khăn, tổn thất, do thái độ và chính sách thù nghịch, thù hằn, vây hãm mà các thế lực thù địch ở Trung Quốc, Hoa Kỳ và các đồng minh, đàn em, chư hầu của họ gây ra trên các mặt trận quân sự, kinh tế, ngoại giao, văn hóa...

Theo tướng Ngũ Tu Quyền, phó tổng tư lệnh Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc thừa nhận, thì Trung Quốc có hơn 2 vạn chiến binh tử trận trên chiến trường Bắc Việt Nam. Theo nhà sử học Gilles Férier thì có khoảng 25.000 lính Trung Quốc thiệt mạng và gần 500 xe bọc thép hoặc pháo bị phá hủy, con số này phía Việt Nam cũng là gần tương tự nhưng thấp hơn một chút. Ông Russell D. Howard thì cho rằng quân Trung Quốc thương vong 6 vạn người, trong đó số chết là 26.000. Một số nguồn khác cũng đồng ý với con số thương vong ít nhất khoảng 50.000 của phía Trung Quốc. Nguồn của sử gia Mỹ gốc Hoa King C. Chen cho rằng riêng tại các bệnh viện lớn ở Quảng Tây đã có ít nhất 30.000 thương binh Trung Quốc. Tháng 4 năm 1979, Tạp chí Quân đội Nhân dân của Việt Nam ước lượng tổng thương vong của quân Trung Quốc là 62.500 người. Việt Nam có hàng nghìn dân thường chết và bị thương. Theo Tạp chí Time thì có khoảng dưới 10.000 lính Việt Nam thiệt mạng (con số này Trung Quốc đưa lên thành "20.000"). Trung Quốc bắt được khoảng 1.600 tù binh trong tổng số hơn 5 vạn quân Việt Nam tham chiến tại mặt trận Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn.

Theo nghiên cứu chính thức của giới sử học Việt Nam và Quân đội Nhân dân, kết quả chiến đấu của quân ta như sau:

Mặt trận Lạng Sơn: Diệt 19.000 tên giặc, phá hủy 76 xe tăng, thiết giáp và 52 xe quân sự, 95 khẩu pháo-cối và giàn phóng hoả tiễn, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 3 trung đoàn, 4 tiểu đoàn (tương đồng nhưng hơi khác biệt so với ký sự của Sư đoàn Sao Vàng).

Mặt trận Cao Bằng: Diệt 18.000 lính giặc, phá hủy 134 xe tăng, thiết giáp và 23 xe quân sự, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 7 tiểu đoàn.

Mặt trận Hoàng Liên Sơn (Lào Cai): Diệt 11.500 quân giặc, phá hủy 66 xe tăng, thiết giáp và 189 xe quân sự, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 4 tiểu đoàn.

Mặt trận Quảng Ninh, Lai Châu và Hà Tuyên: Diệt 14.000 tên địch, phá hủy 4 xe tăng, thiết giáp, 6 xe quân sự, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn.

Cuộc chiến cũng đã gây ra những thiệt hại nặng nề cho kinh tế Việt Nam; các thị xã Lạng Sơn, Cao Bằng, thị trấn Cam Đường bị hủy diệt hoàn toàn, 320/320 xã, 735/904 trường học, 428/430 bệnh viện, bệnh xá, 41/41 nông trường, 38/42 lâm trường, 81 xí nghiệp, hầm mỏ và 80.000 ha hoa màu bị tàn phá, 400.000 gia súc bị giết và bị cướp. Khoảng một nửa trong số 3,5 triệu dân bị mất nhà cửa, tài sản và phương tiện sinh sống. Về phía Trung Hoa, cuộc chiến ngắn ngày đã tiêu tốn của nước này khoảng 1,3 tỷ USD và làm ảnh hưởng tiêu cực nặng nề đến quá trình cải cách kinh tế.

Về lâu dài, nó mở đầu cho hơn 10 năm căng thẳng trong quan hệ và xung đột vũ trang dọc biên giới giữa hai quốc gia, buộc Việt Nam phải thường xuyên duy trì một lực lượng quân sự khổng lồ dọc biên giới, gây hậu quả mất cân đối, mất cân bằng, ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế. Sinh hoạt và sản xuất của người dân vùng biên giới bị ảnh hưởng tiêu cực. Sau chiến bại, Đặng Tiểu Bình và chính phủ Trung Quốc liền cấp tốc hiện đại hóa quân đội.

Đánh giá

Đặng Tiểu Bình thú nhận đã thất bại về quân sự và chiến thuật, nhưng cũng cố chống chế rằng "chúng tôi đã thắng về chính trị và chiến lược". Trần Vân, phó Thủ tướng, 1 trong 5 nhân vật quyền lực nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc cùng với Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai và Chu Đức cũng thừa nhận rằng đánh Việt Nam không được cái gì, dù có cố gắng thì cũng không chịu được quá 6 tháng. Ông ta không dám trơ tráo vỗ ngực "chiến thắng" như Đặng Tiểu Bình và chỉ nói rằng vì lý do kinh tế, không nên lặp lại một cuộc chiến "bất phân thắng bại", "không có kết quả" như vậy. Như vậy dù không trơ trẽn như Đặng Tiểu Bình nhưng ông ta vẫn không dám nói thẳng ra sự thật là Trung Quốc đã thua.

Theo đánh giá của nhà sử học người Mỹ gốc Hoa King C. Chen, Trung Quốc chỉ đạt được vòng quanh 50% các mục tiêu của mình. Ngoài ra Trung Quốc đã không đạt được kết quả như các mục tiêu họ công bố: Họ không tiêu diệt được sư đoàn nào của Việt Nam. Không chấm dứt được xung đột vũ trang ở biên giới Việt – Trung. Không buộc được Việt Nam rút quân khỏi Campuchia. Không làm cho chính phủ Việt Nam sửa đổi chính sách đối với Hoa kiều, chính sách đối với Campuchia, chính sách đối với Trung Quốc, với Liên Xô, với Hoa Kỳ v.v., không buộc được Việt Nam thay đổi bất kỳ chính sách nào, từ nội trị tới đối ngoại, từ chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao đến văn hóa. Không làm cho Việt Nam sợ mà "xuống nước", nhường nhịn, hay lùi 1 bước nào trước Trung Quốc, Khmer Đỏ, không làm cho VN thay đổi thái độ và chính sách với Liên Xô, Hoa Kỳ và các nước. Không làm VN bỏ chính sách và thái độ chống đối, thù nghịch đối với Trung Quốc - Khmer Đỏ.

Tóm lại, Trung Quốc không gây được một chút ảnh hưởng, tác động, thay đổi nào lên chính phủ Việt Nam theo ý muốn của họ, Việt Nam vẫn kiên cường, kiên định, nhất quán trước sau như một với các chính sách, thái độ, phong cách của mình với các vấn đề nội trị, với các quốc gia khác, và đồng thời càng gia tăng sự căm thù đối với Trung Quốc và đồng minh, xem Trung Quốc là "kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm" nhất, và tăng cường tuyên truyền chống Trung Quốc trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong nước và quốc tế, và càng ở "lỳ" Campuchia, cho thêm quân vào Campuchia, và càng đóng giữ lâu hơn. Trung Quốc càng hung hăng thì Việt Nam càng xa lánh họ hơn và càng tăng cường làm trái, làm ngược lại với tất cả mọi yêu cầu, đòi hỏi, đề nghị, quan điểm, chính kiến và lợi ích của họ. Ngang nhiên "thách thức" Trung Quốc và tựa hồ "chọc giận" họ, làm Đặng Tiểu Bình và đồng bọn rất cay cú, điên tiết.

Về quân sự, giáo sư Edward C. O'Dowd đánh giá rằng quân Trung Quốc rất thiện nghệ khi thao luyện trong quân trường ở miền Nam Trung Hoa, nhưng khi vào thực chiến trên chiến trường miền Bắc Việt Nam thì họ lại thể hiện một phong độ chiến đấu tồi tệ. Tại Lạng Sơn, 2 Quân đoàn Trung Quốc đã bị một trung đoàn Quân đội Nhân dân Việt Nam cầm chân trong 1 tuần, một Quân đoàn khác cần 10 ngày để tiến vào Lào Cai và Cam Đường - hai đô thị cách biên giới không đến 15 km. Trung Quốc chiếm Cao Bằng vất vả đến mức cần ít nhất 2 Quân đoàn để tiếp tục tấn công một thị xã mà Trung Quốc tuyên bố đã chiếm được. Tại Quảng Ninh, một trung đội QĐND Việt Nam đã cầm chân 5 tiếng đồng hồ một trung đoàn Trung Quốc đang trên đường chiếm núi Cao Ba Lanh giáp biên giới, gây thương vong cho 360 trong quân số 2800 của trung đoàn này. Những tổn thất nhân mạng như vậy lặp đi lặp lại trên toàn mặt trận và đem lại thương vong và tổn thất nặng nề cho Trung Quốc.

Quân Trung Quốc đã không sử dụng được số quân đông vượt trội đối thủ một cách hiệu quả và do đó không thể đạt được tốc độ hành binh như mong muốn của chiến lược "tốc chiến tốc quyết". Đây là hậu quả của sự lạc hậu về chiến thuật tác chiến của quân đội Trung Quốc vốn gần như không được cải thiện kể từ sau chiến thuật biển người (nhân hải) trong chiến tranh Trung - Nhật, nội chiến Trung Quốc, và chiến tranh Triều Tiên. Thất bại của quân đội Trung Quốc đã buộc Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc phải chú tâm đẩy mạnh quá trình hiện đại hóa quân đội, đặt việc hiện đại hóa quân đội làm trọng tâm hàng đầu, ưu tiên quân sự, quốc phòng.

Trên phương diện quan hệ quốc tế, cuộc chiến Việt - Trung cho thấy rằng Trung Quốc, với sự ủng hộ của Hoa Kỳ, sẵn sàng can thiệp quân sự vào Việt Nam, một quốc gia theo XHCN, từng là đồng minh trong nhiều năm, kết quả chiến tranh cũng cho thấy Việt Nam đủ sức chống lại sự tiến công đó mà không phải điều động quân chủ lực từ biên giới Tây Nam và miền Nam Việt Nam. Những sự kiện từ cuộc chiến cũng cho thấy mối quan hệ đan xen phức tạp giữa Liên Xô - Việt Nam - Trung Quốc - Hoa Kỳ, đồng thời cho thấy Liên Xô cũng không sẵn sàng dùng quân đội giúp Việt Nam chống xâm lược, mà chỉ tăng cường viện trợ kinh tế, quân sự một cách có hạn và có hoàn lại. Sau này Việt Nam vẫn phải trả nợ dần và được Liên bang Nga xóa nợ sớm. Những điều này đã khiến nhiều người Việt Nam sau đó nghi ngờ về đồng minh Liên Xô và việc này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của Liên bang Xô Viết.

Kết quả cuộc chiến cũng cho thấy Trung Quốc đã hoàn toàn bất lực, bó tay, thúc thủ trong việc hỗ trợ đệ tử Khmer Đỏ và thất bại trong việc điều chỉnh quan hệ ngoại giao để tăng cường ảnh hưởng trong khu vực Đông Nam Á.

Mặc dù không có mục tiêu chiến thuật, chiến lược, quân sự, chính trị nào đạt được, nhưng đến nay những lãnh đạo đương nhiệm của Trung Quốc vẫn cố chấp, bảo thủ, vẫn chưa thay đổi quan điểm, họ thừa nhận Trung Quốc đã thất bại về quân sự nhưng lại cố bao biện rằng "đã đạt được một số thành công về chiến lược, và vì vậy chúng tôi chiến thắng". Cuộc xâm lược này cũng là một thất bại ngoại giao và thất bại uy tín của Trung Quốc không những trên quốc tế, không những với đệ tử Pol Pot, mà còn với khu vực, vô tình họ đã tỏa ra một "sát khí" đầy đe dọa, phô bày ác tính, vô hình trung cho các nước trong khu vực, các láng giềng hàng xóm chung quanh thấy rằng, đấy, "thiên triều", "Bắc triều" sẵn sàng dùng bạo lực và đi xâm lược, bành trướng, giết chóc nếu vị thế và uy lực của mình bị thách thức. Vô ý tạo ra một nhu cầu đoàn kết giữa các nước Đông Nam Á, hình thành một động lực cho các quốc gia trong khu vực cùng nhau bắt tay đề phòng hiểm họa Trung Quốc, và khi cần thiết thì sẽ chống lại họ.

Trong cuộc chiến này, Trung Quốc cũng thể hiện một tư thế thấp kém qua phong cách tiến hành chiến tranh mang tính chất "cắn trộm", "đánh lén". Trung Quốc và cả thế giới đều biết quân lực của Việt Nam đều tập trung ở miền Nam Việt Nam và chiến trường Campuchia, và TQ đã thừa cơ hội đó đã bất ngờ xua quân tràn sang tấn công Việt Nam. Họ phát ngôn nghe rất oai phong lẫm liệt nhưng khi quân đội chính quy Việt Nam ào ào kéo ra Bắc thì họ lập tức lui nhanh. Đánh xong rồi chạy.

Thật ra họ đánh giá thấp khả năng tự vệ, đánh trả của các lực lượng tân binh, quân đội địa phương, và dân quân - tự vệ của Việt Nam, họ cho rằng trước khi đại quân Việt Nam đến nơi thì họ đã dễ dàng vượt qua các hàng phòng ngự VN với thương vong không đáng kể, và đã đánh tới Hà Nội hoặc chiếm xong thủ đô của Việt Nam, biến thành một sự đã rồi. Nhưng thực tế lại khác, "thiên bất dung gian", TQ không ngờ sinh lực của họ bị thiệt hại nặng nề đến vậy chỉ với những lực lượng kể trên, và hầu như không có một cơ hội nào kéo quân đến được Hà Nội chứ đừng nói là đánh chiếm được. Nên khi quân đội chủ lực VN tới nơi, và các lực lượng khác đang trên đường đi tới, thì họ vội “chuồn êm” vì biết rõ kết quả sẽ như thế nào nếu ngoan cố ở lại. Trung Quốc không thể thắng nổi những tân binh địa phương, bạch đầu quân, nữ du kích, công an xung phong, dân quân, tự vệ thì họ không thể chống được với lực lượng đại quân, tinh binh, các lực lượng chính quy, chủ lực, tinh nhuệ, nhiều kinh nghiệm chiến đấu, nhiều chiến công của quân đội VN.

Trong một bài viết hiếm hoi trên báo chí Trung Quốc về cuộc xâm lược Việt Nam năm 1979, bài nghiên cứu “Trong cuộc chiến năm 1979: Vì sao không chia cắt Việt Nam, vì sao thương vong khi rút về lớn hơn khi tấn công?” trên báo điện tử China.com do ông Dương Danh Dy dịch thuật, họ đã thừa nhận: “Lâu nay chúng ta luôn tuyên truyền rằng chúng ta ‘chiến thắng‘, nhưng cùng với thời gian, những văn kiện của ta, những tư liệu của Việt Nam và quốc tế cho thấy cuộc chiến này không lạc quan như tuyên truyền trước đây, trong đó có nhiều bài học nặng nề đau đớn khiến chúng ta không thể không phản tỉnh một cách sâu sắc”.

Sau khi xem lại, đánh giá lại và thừa nhận kết quả cuộc chiến, bài viết tiếp tục thừa nhận bản chất của cuộc chiến: “Ba đại kỷ luật, tám điều chú ý mà quân đội ta giữ nghiêm đã phát huy tác dụng trong cuộc kháng chiến chống phát xít Nhật và cuộc Quốc-Cộng nội chiến; thế nhưng khi chúng ta vào Việt Nam đánh họ mà vẫn thực hiện 3 đại kỷ luật, 8 điều chú ý là tự trói chân tay mình lại, hy vọng dùng những kỷ luật đó để tranh thủ sự giúp đỡ và ủng hộ của nhân dân Việt Nam chống đất nước của họ thì chẳng khác gì đàn gẩy tai trâu, tự chuốc nhục nhã.”, “Nhân dân Việt Nam không phải là công dân Trung Quốc, làm sao họ có thể gần gũi quân đội nước ngoài đánh vào nước họ?”, “Chiến tranh là chiến tranh, nhất là chiến tranh giữa các quốc gia, anh không thể hy vọng nhân dân nước khác đánh trống khua chiêng hoan nghênh anh xâm chiếm người ta, đó chẳng qua chỉ là trò bịt tai trộm chuông, dối mình dối người.”


Chiến tranh năm 1979 và cuộc đấu trí cân não giữa Trung Quốc - Việt Nam - Hoa Kỳ (kỳ 3)


Mục tiêu của Trung Quốc

Tuyên bố chiến tranh của bọn bành trướng Trung Quốc nói rằng đây là cuộc chiến để quân Trung Quốc "phản kích tự vệ" chống lại các khiêu khích của Việt Nam. Phát ngôn viên của Tân Hoa xã nói: "Các lực lượng biên phòng Trung Quốc đã hành động khi tình hình trở nên không thể chấp nhận được và không còn lựa chọn nào khác. Chúng tôi không muốn một tấc đất nào của Việt Nam. Cái chúng tôi muốn là một đường biên giới ổn định và hòa bình." Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, Trung Quốc muốn đánh, xem tình hình thế nào, nếu chiếm được thủ đô Hà Nội thì sẽ chiếm đóng lâu dài ở miền Bắc VN, và trước đó họ đã dự tính trước khả năng này nên đã thủ sẵn con bài Hoàng Văn Hoan và các chiêu bài chính trị, những con bài chính trị cần thiết. Và thực tế sau này đã cho thấy họ có tham vọng đất đai, do đó những gì mà họ tuyên bố, tuyên truyền, chỉ là dối trá.

Trước cuộc xâm lược, tướng Dương Đắc Chí còn hung hăng nói với thuộc cấp và binh lính: Chúng ta sẽ ăn Phở ở Hà Nội. Và nếu muốn thì chúng ta cũng thừa sức ăn Phở ở Hà Nội buổi sáng, ở Huế buổi trưa, và Thành phố Hồ Chí Minh buổi chiều... Điều này càng cho thấy tham vọng của bọn phản động Trung Quốc.

Nhiều nhà sử học phương Tây cho rằng cuộc chiến có những mục đích không rõ ràng do bọn bá quyền phương Bắc giấu kín, chỉ tuyên bố, tuyên truyền những lời hay ý đẹp để giải thích cho dư luận trong nước, trấn an dư luận quốc tế, và để cho phía VN bị hoang mang không rõ ràng. Trong đó, theo họ, việc dễ thấy nhất là Trung Quốc muốn cứu nguy Khmer Đỏ, là một trong những chế độ độc tài tàn bạo nhất của thế kỷ 20.

Theo nhà nghiên cứu, chuyên gia quân sự, giáo sư người Úc Carl Thayer trên BBC, trong mắt Trung Quốc, Hà Nội đã "quên ơn" Bắc Kinh: Sau khi được giúp đỡ trong 2 cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ thì quay sang bạc đãi cộng đồng người Hoa, quan hệ nồng ấm với Liên Xô mà khi đó Trung Quốc coi là kẻ thù, rồi lại tấn công quân sự lật đổ đồng minh Khmer Đỏ của Bắc Kinh. Bọn phản động phương Bắc không chinh phạt Việt Nam thì danh dự, quốc thể, thương hiệu, uy thế của Trung Quốc sẽ bị ảnh hưởng không tốt, gần như họ sa vào cái thế phải đánh, không đánh không xong. Bọn bành trướng phương Bắc mở cuộc nam chinh, xua quân vào phương Nam là vì Việt Nam "dám" thách thức uy quyền, tầm vóc, vị thế, địa vị, và tầm ảnh hưởng của Trung Quốc trên bán đảo Đông Dương nói riêng và châu Á nói chung. Bên cạnh việc xâm lấn Việt Nam để "bình định vùng biên giới" sau nhiều năm căng thẳng với các xung đột ngày càng nhiều, ngày càng lớn, bọn họ phải hành động để chứng tỏ uy tín của mình trong việc bảo vệ đồng minh Khmer Đỏ, và để chứng minh họ không thua Liên Xô.

Theo Trung tướng Lưu Á Châu của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, Chính ủy Đại học Quốc phòng Trung Quốc, giáo sư thỉnh giảng của Đại học Stanford ở Mỹ, mà dịch giả Vũ Hồng Ngự và Nguyễn Hải Hoành dịch lại một số bài viết, bài nói của ông và đăng trên Tuần Việt Nam và tạp chí Hồn Việt, thì: "Cuộc chiến này của đồng chí Đặng Tiểu Bình là đánh để hai người xem, một là Đảng Cộng sản Trung Quốc, hai là người Mỹ." và: "Vừa rồi, tôi nói gây ra cuộc chiến tranh này vì người Mỹ, chính là trả hận cho người Mỹ. Có bằng chứng không? Có đấy. Ngày hôm trước rời Nhà Trắng thì ngày hôm sau, Đặng Tiểu Bình bắt đầu đánh Việt Nam. Vì sao có thể giúp Mỹ hả giận? Bởi vì, người Mỹ vừa tháo chạy nhục nhã khỏi Việt Nam. Chúng ta sao lại giúp người Mỹ hả giận? Thực ra không phải vì Mỹ, mà là vì chúng ta, vì cải cách mở cửa. Trung Quốc không thể cải cách mở cửa mà không có viện trợ của các nước phương Tây, đứng đầu là Mỹ. Nhờ cuộc chiến này, Mỹ đã ồ ạt viện trợ kinh tế, kỹ thuật, khoa học kỹ thuật và cả viện trợ quân sự, tiền vốn cho Trung Quốc... Cuộc chiến này đem lại cho Trung Quốc những gì? Đó là một lượng lớn thời gian, tiền bạc và kỹ thuật. Nhờ những yếu tố này, Trung Quốc tiếp tục đứng vững sau khi Liên Xô sụp đổ. Đây là thành công vĩ đại. Thậm chí có thể nói, bước đi đầu tiên của cải cách mở cửa Trung Quốc chính là từ cuộc chiến tranh này."

Đối với Việt Nam, cuộc chiến là một phần trong kế hoạch bành trướng, Nam xâm của bọn bá quyền phương Bắc, noi gương bọn phong kiến phương Bắc. Theo phân tích của giới quân sự và các chuyên gia Việt Nam, mục tiêu chính của Trung Quốc trong hành động quân sự lần này gồm:

- Nhanh chóng chiếm đóng vùng biên giới Việt - Trung, đặc biệt là các thị xã trọng yếu gồm Lạng Sơn (chốt chặn nối Quốc lộ 1A của Việt Nam với Trung Quốc), Cao Bằng và Lào Cai. Vùng chiếm đóng dự kiến với bề sâu chừng vài chục km sẽ được Trung Quốc sử dụng làm bàn đạp cho các cuộc tấn công vào sâu nội địa Việt Nam.

- Tiêu hao lực lượng chủ lực và làm suy yếu khả năng phòng ngự phía Việt Nam bằng việc quét sạch các đồn biên phòng, tiêu diệt một phần lực lượng quân địa phương và các đơn vị võ trang độc lập khác của Việt Nam.

- Hủy diệt cơ sở hạ tầng và nền kinh tế ở các vùng chiếm đóng để đưa nền kinh tế Việt Nam tới chỗ kiệt quệ, sụp đổ.

Tương quan lực lượng tham chiến

Để tấn công Việt Nam, Trung Quốc sử dụng 9 Quân đoàn chủ lực và 32 sư đoàn bộ binh, 6 trung đoàn xe tăng, 4 sư đoàn và nhiều trung đoàn pháo binh, phòng không. Lực lượng được huy động khoảng trên 40 vạn binh sĩ, 550 xe tăng, 480 khẩu pháo, 1.260 súng cối và dàn tên lửa, chưa kể hơn 200 tàu chiến của hạm đội Nam Hải và 1.700 máy bay sẵn sàng phía sau. Quân đội nam chinh đặt dưới sự thống lĩnh của hai tướng Hứa Thế Hữu và Dương Đắc Chí.

Tướng Hứa Thế Hữu, tư lệnh Đại Quân khu Quảng Châu chỉ huy hướng tiến công vào vùng Đông Bắc Việt Nam với trọng điểm là Lạng Sơn và Cao Bằng. Tướng Dương Đắc Chí, tư lệnh Đại Quân khu Côn Minh đảm nhiệm hướng Tây Bắc với trọng điểm là Hoàng Liên Sơn (nay là Lào Cai). Đây là đợt huy động quân sự lớn nhất của Trung Quốc kể từ chiến tranh Triều Tiên. 

Ngoài lực lượng quân chính quy, Trung Quốc còn huy động hàng chục vạn dân công và lực lượng dân binh ở các tỉnh biên giới để tải đồ tiếp tế, phục vụ, tải thương, hỗ trợ quân chính quy, phục vụ cho chiến dịch xâm lược. Tại Quảng Tây đã có đến 21 vạn dân phu được huy động. Về phân phối lực lượng của Trung Quốc: Hướng Lạng Sơn có Quân đoàn 43, 54, 55; hướng Cao Bằng có Quân đoàn 41, 42, 50; hướng Hoàng Liên Sơn có Quân đoàn 13, 14; hướng Lai Châu có Quân đoàn 11; hướng Quảng Ninh, Hà Tuyên (nay là Hà Giang) mỗi nơi cũng có từ 1 đến 2 sư đoàn. Tổng số khoảng 60-65 vạn người.

Về phía Việt Nam, do phần lớn các Quân đoàn chính quy (3 trong số 4 Quân đoàn) đang chiến đấu ở Campuchia hoặc đóng ở miền Nam Việt Nam đề phòng Mỹ quay lại, tàn quân ngụy nổi loạn, sự phá hoại của bọn khủng bố "Mặt trận Hoàng Cơ Minh" (tiền thân của tổ chức khủng bố Việt Tân), và để tiếp ứng cho quân đội ta ở Campuchia, đặt trọng tâm vào chiến cuộc phía Nam, nên phòng thủ ở biên giới với Trung Quốc chỉ có một số sư đoàn chủ lực quân khu (chủ yếu là tân binh) của Quân khu I và II cùng các đơn vị bộ đội biên phòng, bộ đội địa phương tỉnh, huyện, công an vũ trang (biên phòng), công an xung phong, du kích xã và dân quân - tự vệ.

Lực lượng thiện chiến nhất của Việt Nam đóng ở biên giới Việt - Trung là Sư đoàn 3 (vốn là sư đoàn có truyền thống hào hùng, lập nhiều chiến công, thành tích trong kháng chiến chống Mỹ, từng trải qua trăm trận, có kinh nghiệm và năng lực chiến đấu cao, được điều động từ miền Nam lên đóng tại Lạng Sơn để đề phòng bọn bá quyền) và sư đoàn 316A (đóng tại Sa Pa), ngoài ra còn có các sư đoàn 346 ở Cao Bằng, 325B ở Quảng Ninh, 345 ở Lào Cai, 326 ở Phong Thổ, Lai Châu.

Sư đoàn 346 đóng tại Cao Bằng nhiều năm chủ yếu làm nhiệm vụ kinh tế, thời gian huấn luyện sẵn sàng chiến đấu trở lại chưa nhiều. Lực lượng biên giới có khoảng 7 vạn quân, về sau được hai sư đoàn (327 và 337) từ tuyến sau lên Lạng Sơn tiếp viện. Lực lượng độc lập gồm các trung đoàn 141, 147, 148, 197, trung đoàn pháo binh 68, các trung đoàn quân địa phương 95, 121, 192, 254 và 741. Quân đoàn 1 được xây dựng thành một phòng tuyến, thành những hàng rào phòng thủ đóng quanh Hà Nội, bảo vệ thủ đô, ngăn chận Trung Quốc tiến sâu vào vùng trung châu.

Ngày 27 tháng 2, Quân đoàn 2 là chủ lực của Bộ quốc phòng được lệnh cơ động về để bảo vệ miền Bắc, đến ngày 5 tháng 3 bắt đầu triển khai trên hướng Lạng Sơn. Do 3 danh tướng Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu, Lê Trọng Tấn đều chỉ huy ở Campuchia chống Khmer Đỏ nên chiến dịch chống Trung Quốc lần này do 3 tướng Văn Tiến Dũng, Đàm Quang Trung, và Vũ Lập thống lĩnh.

Xâm lăng Việt Nam từ hai hướng

Suốt thời gian này, Trung Quốc dần hiện nguyên hình, lộ chân tướng ngụy quân tử, đạo đức giả, từ chống Việt Nam một cách giấu mặt đến chống công khai. Những mưu đồ chống phá đó đều hiểm độc và đã gây khó khăn cho Việt Nam, nhưng cuối cùng đều thất bại, cho nên đầu năm 1979, Trung Quốc phải tính đến việc tấn công trực tiếp, xâm lược thẳng thừng Việt Nam từ hai phía.

Phía Tây Nam, theo kế hoạch của Bắc Kinh, sau khi tập trung khoảng 20 vạn quân ở sát biên giới Việt - Miên, ngày 22 tháng 12 năm 1978, Pol Pot đã sử dụng những sư đoàn tinh nhuệ, thiện chiến nhất của họ, có xe tăng và pháo binh yểm trợ, đánh vào khu vực Bến Sỏi thuộc tỉnh Tây Ninh (cách TPHCM 100 km), với ý đồ đánh chiếm chớp nhoáng thị xã Tây Ninh, mở đường tiến sâu vào miền Nam Việt Nam, đồng thời làm suy yếu Việt Nam để quân Trung Quốc đánh vào Việt Nam từ phía Bắc.

Việt Nam đã phản công mạnh mẽ và làm thất bại hoàn toàn kế hoạch quân sự đó. Đồng thời, tiến quân đánh thẳng vào và san bằng sào huyệt của giặc xâm lược, phá tan hang ổ của Pol Pot, lật đổ chế độ Khmer Đỏ, cứu người dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, làm tròn nghĩa vụ quốc tế, tận diệt mầm mống xâm lược, ổn định lại biên giới Việt Nam – Campuchia, các tỉnh biên giới, và miền Nam VN, phá thế gọng kìm, thoát khỏi tình trạng "lưỡng đầu thọ địch".

Phía Bắc, Trung Quốc huy động hơn 50 vạn quân, gồm nhiều Quân đoàn và sư đoàn, nhiều đơn vị binh chủng kỹ thuật với gần 800 xe tăng, hàng ngàn khẩu pháo, hàng trăm máy bay các loại của hầu hết các quân khu của Trung Quốc, phát động chiến tranh xâm lược tổng lực và toàn diện vào Việt Nam ngày 17 tháng 2 năm 1979 trên toàn tuyến biên giới.

Để lừa gạt dư luận Trung Quốc và dư luận thế giới, những người cầm quyền Bắc Kinh đã tuyên bố rằng đấy chỉ là một cuộc “phản kích tự vệ”, một cuộc "Chiến tranh đánh trả tự vệ trước Việt Nam" (对越自卫还击战, Đối Việt tự vệ hoàn kích chiến) bằng những đơn vị biên phòng, nhiều tài liệu quốc tế đã cho thấy là có ít nhất 50 vạn quân, tài liệu của một số nước châu Âu như Tây Ban Nha, Hà Lan, Bồ Đào Nha và tài liệu của Liên Xô cũ và Nga ngày nay đều cho thấy là có từ 50 đến 60 vạn quân, nhưng trong tài liệu của Trung Quốc thì chỉ còn "20 vạn quân".

Sự thật đây là một cuộc chiến tranh xâm lược toàn diện bằng quân lực chính quy, bằng lực lượng chủ lực có tuyển chọn, tinh nhuệ, thiện chiến nhất từ hầu hết các quân khu của Trung Quốc, nhiều tướng lĩnh, sĩ quan có kinh nghiệm chiến đấu trong nội chiến Trung Quốc chống quân Quốc dân đảng và chiến tranh Triều Tiên chống liên quân Liên Hiệp Quốc do Mỹ cầm đầu. Ngoài ra có nhiều lão thành quân sự đã từng trải trong cuộc chiến tranh Trung - Nhật chống phát xít, chống Tưởng Giới Thạch, chống quân phiệt, từng thân chinh bách chiến, thân trải trăm trận vào sinh ra tử trên các chiến trường Đại Lục và Triều Tiên, chống với nhiều quân đội khác nhau, trong đó có những người nguyên là thuộc cấp dưới trướng của danh tướng Bành Đức Hoài trước đây, cũng tham gia với vai trò cố vấn quân sự.

Đây là một cuộc chiến tranh xâm lược được chuẩn bị chu đáo, kỹ lưỡng, tỉ mỉ về các mặt, từ việc xây dựng những công trình quân sự, đường xá, hầm hào, sân bay dọc biên giới Việt – Trung đến việc vu cáo Việt Nam, phá hoại tình hữu nghị Việt – Trung, kích động tư tưởng đại dân tộc, tinh thần Đại Hán trong nhân dân Trung Quốc hòng biện bạch và che giấu hành động xâm lược. Về mặt đối ngoại, họ cũng chuẩn bị chu đáo, đặc biệt là họ đã phát động cuộc chiến tranh xâm lược sau khi Phó thủ tướng Đặng Tiểu Bình đi thăm Mỹ về, thực tế là sau khi tranh thủ được sự đồng tình của Mỹ và Nhật, một đàn em thân cận của Mỹ.

Tướng Diệp Kiếm Anh của QGPNDTQ lúc đó vốn đang tranh giành quyền lực và có nhiều bất bình, bất đồng chính kiến với Đặng Tiểu Bình và chính sách cải cách, đã nói: Diệu võ dương oai đánh Việt Nam thì được gì? Không khác gì Gia Cát Lượng Bắc phạt Tư Mã Ý, đánh vào nơi nào và làm sao đánh thắng được? Chúng ta không thể đánh thắng một đội quân lưu động trong nhà của họ. Mỹ muốn báo thù Việt Nam bằng máu Trung Quốc. Không được dùng máu của người Trung Quốc để phục hận cho người Mỹ... Rất tiếc Đặng Tiểu Bình và đồng bọn hiếu chiến, hiếu thắng đã không nhận ra điều này và bỏ ngoài tai những lời can gián trung thực, ngay thẳng.

Hai cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam mà Trung Quốc gây ra từ hai hướng là bước leo thang cao nhất trong cả một quá trình hành động tội ác chống lại sự độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam từ trước đến nay nhằm làm yếu, thôn tính và khuất phục Việt Nam. Trái với mọi tính toán của Bắc Kinh, cuộc chiến tranh xâm lược của họ đã thất bại thảm hại, đã bị toàn thế giới (trừ Mỹ và các đồng minh thân cận) lên án và một bộ phận nhân dân Trung Quốc phản đối. Ngày 5 tháng 3 năm 1979, do bị tổn thất, thiệt hại, thương vong nặng nề, không còn đủ sức duy trì cuộc chiến, và nhìn thấy nhiều đơn vị khác của Việt Nam từ Campuchia quay về, từ miền Nam trùng trùng điệp điệp kéo ra Bắc, họ đành phải lui quân kịp thời trước khi quân bổ sung của Việt Nam tới nơi.

Dùng đàn em Khmer Đỏ xâm lấn từ phía Tây Nam

Sau cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam, Trung Quốc và Khmer Đỏ ngày càng hiện rõ chân tướng, lộ diện chân dung, bộc lộ bản chất đón gió trở cờ và bộ mặt thật của mình, càng lúc càng dấn thân vào con đường phản bội phong trào giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người trên thế giới, câu kết với Hoa Kỳ và chủ nghĩa đế quốc, trở mặt với Việt Nam, Liên Xô, và cả Cuba. Trong thời gian đó Đặng Tiểu Bình và truyền thông Trung Quốc liên tục chửi bới Cuba là "tay sai của Điện Cẩm Linh" là "một Việt Nam mới của châu Mỹ", "tiểu bá châu Mỹ" v.v. Hai thầy trò Đặng Tiểu Bình - Pol Pot lúc đó không dám nói động đến Hoa Kỳ, nhưng lại liên tục chửi bới Việt Nam, Liên Xô, Cuba và ép cả Bắc Triều Tiên cùng đứng về chiến tuyến của họ, đồng thanh chửi bới và tuyên truyền xuyên tạc. Áp lực Bắc Triều Tiên phái cố vấn quân sự, một số quân lính vào Campuchia và viện trợ một số vũ khí cho Khmer Đỏ.

Tranh chấp và xung đột biên giới phía Bắc và phía Nam xảy ra liên tục trong các năm 1977 và 1978, nhưng cuộc xung đột quân sự thực ra đã bắt đầu ngay sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng. Ngày 4 tháng 5 năm 1975, một toán quân Khmer Đỏ đã đột kích đảo Phú Quốc; 6 ngày sau, quân Khmer Đỏ xâm chiếm, thảm sát và hành quyết hơn 500 dân thường ở đảo Thổ Chu.

Căm giận, phẫn nộ trước hành vi xâm lấn tàn ác của Khmer Đỏ, quân ta đã phản công và nhanh chóng tái chiếm các đảo này. Trận Phú Quốc làm quan hệ Việt Nam - Trung Quốc và tình hình khu vực vốn đang rất tồi tệ lại càng xấu đi. Mặt nạ của Trung Quốc đã hoàn toàn rơi xuống, mặt thật của họ đã hoàn toàn phơi bày với sự hiện diện của cố vấn Trung Quốc trong những đội quân Khmer Đỏ xâm lược và có rất nhiều trong nội địa Campuchia, và sự tăng cường viện trợ kinh tế và quân sự cho lực lượng khủng bố Khmer Đỏ. Theo nhà sử học Ben Kiernan trong sách "The Pol Pot Regime: Race, Power, and Genocide in Cambodia Under the Khmer Rouge", xuất bản năm 1996, thì trong khoảng thời gian 1975 - 1977 Trung Quốc đã viện trợ cho Pol Pot 2 tàu chiến tốc độ cao tải trọng 800 tấn, 4 tàu tuần tiễu, 200 xe tăng, 300 xe bọc thép, 300 pháo, 6 máy bay tiêm kích, 2 máy bay ném bom, 1300 xe vận tải và 30.000 tấn đạn dược các loại.

Tiếp theo cuộc đột kích vào các đảo Thổ Chu và Phú Quốc, bên cạnh nhiều cuộc đột kích nhỏ thì bọn khủng bố Khmer Đỏ còn tiến hành 2 cuộc xâm lăng quy mô vào miền Nam Việt Nam. Cuộc tấn công lớn đầu tiên diễn ra vào tháng 4 năm 1977, quân chủ lực Khmer Đỏ tiến sâu 10 km vào lãnh thổ Việt Nam, chiếm một số vùng ở tỉnh An Giang và tàn sát một số lớn dân thường. Cuộc tấn công thứ hai diễn ra vào ngày 25 tháng 9 cùng năm. Lần này, 4 sư đoàn Khmer Đỏ đánh chiếm nhiều điểm ở các huyện Tân Biên, Bến Cầu, Châu Thành (tỉnh Tây Ninh), đốt phá 471 ngôi nhà, làm gần 800 người dân bị giết, bị thương hoặc mất tích.

Ngày 31 tháng 12 năm 1977, 6 sư đoàn Quân đội Nhân dân Việt Nam đánh sâu vào đất Campuchia đến tận Neak Luong rồi mới rút lui từ ngày 5 tháng 1 năm 1978, giải cứu một số nhân vật lãnh đạo quan trọng của Campuchia, trong đó có đồng chí Hun Sen. Đây là một cuộc phản công khá lớn, mang tính chất trừng phạt, cảnh cáo, răn đe đối với Khmer Đỏ. Việt Nam đề nghị một giải pháp ngoại giao nhằm thiết lập một vùng phi quân sự dọc biên giới, nhưng Pol Pot gạt đi, và điên loạn chống Việt Nam tiếp tục.

Ngày 1 tháng 2 năm 1978, Trung ương Khmer Đỏ họp bàn chủ trương chống Việt Nam triệt để, chống VN toàn diện, và quyết định thành lập 15 sư đoàn. Pol Pot ra Nghị quyết: "Chỉ cần mỗi ngày diệt vài chục, mỗi tháng diệt vài ngàn, mỗi năm diệt vài ba vạn thì có thể đánh 10, 15, đến 20 năm. Thực hiện 1 diệt 30, hy sinh 2 triệu người Campuchia để tiêu diệt 50 triệu người Việt Nam". Pol Pot đã điều 13 trong số 17 sư đoàn chủ lực và một số trung đoàn địa phương liên tục tấn công vào lãnh thổ Việt Nam, có nơi vào sâu tới 15-20 km. Trong các đợt tấn công đó, Khmer Đỏ đã gây ra nhiều cuộc thảm sát đối với người Việt Nam, một ví dụ là vụ thảm sát Ba Chúc vào tháng 4 năm 1978 với 3157 dân thường bị giết hại. Điều này cho thấy đôi thầy trò Trung Quốc - Khmer Đỏ đã lộ ra bộ mặt phát xít dã man tàn bạo, vô nhân đạo, mất tính người, "noi gương" và nối nghiệp Đức Quốc Xã của Hitler. Với một chính sách phân biệt chủng tộc, bài Việt Nam, kỳ thị và tẩy chay người Việt, và đại diệt chủng, những cái gọi là "nghị quyết", "chính sách", cách làm, hành vi, hành động của họ rất quái đản và mang tính chất bệnh hoạn, biến thái. 

Ngày 13 tháng 12 năm 1978, Khmer Đỏ huy động 10 trong 19 sư đoàn tấn công, xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới. Ba sư đoàn đánh vào Bến Sỏi với mục tiêu chiếm thị xã Tây Ninh, 2 sư đoàn đánh vào Hồng Ngự, 2 sư đoàn đánh khu vực Bảy Núi, 1 sư đoàn đánh Trà Phô, Trà Tiến thuộc tỉnh Kiên Giang. Quân đội Việt Nam đã chống trả quyết liệt và đã kìm chân bước tiến, đồng thời làm tiêu hao sinh lực của giặc. Các hướng tiến quân của bọn khủng bố bị chặn lại và không thể phát triển được. Ngoại trừ Hà Tiên bị chiếm giữ trong thời gian ngắn, không một thị xã nào của Việt Nam bị chiếm được. Theo Tạp chí Time, Không quân Nhân dân Việt Nam đã tiến hành những cuộc không kích và lực lượng bộ binh giao tranh trên bộ, đánh vào các đơn vị quân Khmer Đỏ dọc biên giới nhằm làm suy yếu quân Khmer Đỏ trước khi quân Việt Nam bắt đầu chiến dịch phản công thì đã tiêu diệt khoảng gần 2 vạn quân Khmer Đỏ.


Dùng đại quân trực tiếp xâm lược từ phía Bắc

Giai đoạn chuẩn bị:

Từ tháng 10 năm 1978 cho đến 15 tháng 2 năm 1979, Trung Quốc cho quân báo, thám báo, trinh sát, và cả một số điệp viên Hoa Nam Cục dò thám và thực hiện nhiều cuộc tấn công thăm dò vào các vị trí phòng thủ của Việt Nam nơi biên ải, với mục đích thu thập thông tin (địa hình, trận thế, chiến hào, công sự phòng ngự, địa điểm đóng quân, hệ thống phòng thủ, vũ khí, khí cụ, kỹ năng tác chiến cá nhân, sức chiến đấu tập thể của lực lượng biên phòng VN), đe dọa tâm lý và tinh thần quân lính Việt Nam, và đánh lạc hướng khỏi mục tiêu chính của chiến dịch sắp tới.

Những cuộc tấn công nhỏ, lẻ này tăng dần về quy mô và tần số khi lực lượng Trung Quốc tập trung tại biên giới ngày càng đông. Trung Quốc cắt đứt tuyến đường sắt Hữu Nghị nối liền hai nước vào ngày 22 tháng 12 năm 1978. Đến cuối tháng 1 năm 1979, gần 20 sư đoàn chính quy Trung Quốc (trên dưới 25 vạn quân), đã tập trung gần biên giới giáp ranh Việt Nam. Hơn 700 máy bay chiến đấu và máy bay ném bom - 1/5 lực lượng không quân Trung Quốc - đã được đưa đến các sân bay gần biên giới, phối hợp với các lực lượng lục quân, chuẩn bị một chiến dịch tấn công tổng lực, đại quy mô, xâm lược trực diện, xâm lược toàn diện. Các động thái leo thang này của Trung Quốc đã bị Việt Nam - với tư cách là 1 thành viên trong Liên Hiệp Quốc - lên án quyết liệt tại cuộc họp của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc ngày 11 tháng 2 năm 1979.

Ngày 7 tháng 2, Bắc Kinh đưa ra thông cáo chính thức của chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa phản đối việc quân đội Việt Nam tiến đánh Khmer Đỏ và đề nghị quốc tế "dùng mọi biện pháp có thể để chấm dứt cuộc xâm lược dã man này". Về mặt ngoại giao, sau khi bang giao với Hoa Kỳ từ tháng 12 năm 1978, trong chuyến thăm Washington từ 28 đến 30 tháng 1, Đặng Tiểu Bình nhận được sự ủng hộ cần thiết của đồng minh mới Hoa Kỳ trong kế hoạch tấn công Việt Nam.

Ngày 15 tháng 2 năm 1979, nhân dịp 29 năm hiệp ước Trung - Xô về vấn đề Mông Cổ và thời điểm kết thúc chính thức Hiệp ước hợp tác Trung - Xô, Các Đại biểu Nhân dân (Quốc hội) Trung Quốc tuyên bố chiến tranh với Việt Nam. Để cảnh cáo Liên Xô và cũng nhằm đề phòng bị Liên Xô thừa cơ xâm phạm biên giới, Trung Quốc đặt toàn bộ quân đội đóng dọc biên giới Trung - Xô vào tình trạng báo động, đồng thời thiết lập một sở chỉ huy quân đội mới ở Tân Cương và di tản trên dưới 300.000 dân khỏi vùng biên giới giáp Liên Xô.

Để đối phó lại việc Trung Quốc tập trung đại quân và vũ khí hạng nặng tại biên giới, cũng như việc các cuộc đột kích vũ trang ngày càng gia tăng, Việt Nam tiến hành chuẩn bị công cuộc phòng thủ, chuẩn bị các vị trí phòng ngự, làm công tác tư tưởng chuẩn bị tinh thần cho chiến sĩ, đồng bào, sẵn sàng một khi chiến tranh xảy ra. Một số đơn vị quân đội ở miền Nam VN được lệnh chuẩn bị ra Bắc. Một số đơn vị quân đội đang ở Campuchia được lệnh chuẩn bị tinh thần để khi có lệnh thì lập tức quay về bảo vệ đất nước.

Do nhiều đơn vị chủ lực đều kẹt ở xa, quân đội chủ lực vẫn đang ở Campuchia đối phó với lực lượng tàn dư du kích Khmer Đỏ. Các lực lượng chủ lực ở miền Nam Việt Nam thì có đơn vị chưa xuất phát, có đơn vị chỉ đang trên đường Bắc tiến, nên lực lượng Việt Nam đương đầu với những cuộc tấn công đầu tiên của Trung Quốc chủ yếu là dân quân, tự vệ, tân binh, nữ binh, bạch đầu quân (lão binh), du kích địa phương, công an xung phong, lính biên phòng, và bộ đội địa phương. 

Từ vài tháng trước khi chiến tranh nổ ra, Việt Nam đã lường trước và có những sự chuẩn bị, cảnh giác đáng kể, do đó đã tiến hành huấn luyện và trang bị vũ khí hạng nhẹ cho dân quân - tự vệ, dân phòng, lực lượng du kích xã ở các tỉnh biên giới. Tuy nhiên, do bị thiếu quân, lại không ngờ Trung Quốc lại tấn công tổng lực bằng đại quân hùng hậu với lực lượng lớn như thế, với số lượng quân sĩ như thế, với tầm mức như thế, nên Việt Nam chỉ có một số đơn vị quân chủ lực tham gia chiến trận, nhất là các đơn vị phòng thủ Lạng Sơn, nhưng ngay cả tại đây, lực lượng chủ yếu vẫn là dân quân tự vệ và quân địa phương. Việt Nam giữ 5 sư đoàn chủ lực ở tuyến sau, phòng tuyến thứ hai, án ngữ đề phòng Trung Quốc tiến sâu về đồng bằng, hình thành một lớp phòng ngự đầu tiên bảo vệ thủ đô.


Giai đoạn 1:

5 giờ sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, lực lượng Trung Quốc khoảng 12 vạn quân bắt đầu tiến vào Việt Nam trên toàn tuyến biên giới, mở đầu là pháo binh, tiếp theo là xe tăng và bộ binh. Cánh phía Đông có sở chỉ huy tiền phương đặt tại Nam Ninh và mục tiêu chính là Lạng Sơn.

Có hai hướng tiến song song, hướng thứ nhất do Quân đoàn 42A dẫn đầu từ Long Châu đánh vào Đồng Đăng nhằm làm bàn đạp đánh Lạng Sơn, hướng thứ hai do Quân đoàn 41A dẫn đầu từ Tĩnh Tây và Long Châu tiến vào Cao Bằng và Đông Khê.

Ngoài ra còn có Quân đoàn 55A tiến từ Phòng Thành vào Móng Cái. Cánh phía Tây có sở chỉ huy tiền phương đặt tại Mông Tự, có 3 hướng tiến công chính: Hướng thứ nhất do các Quân đoàn 13A và 11A dẫn đầu đánh từ vào thị xã Lào Cai. Hướng thứ hai từ Văn Sơn đánh vào Hà Giang. Hướng thứ 3 do sư đoàn 42D của Quân đoàn 14A dẫn đầu đánh từ Kim Bình vào Lai Châu.

Trung Quốc tấn công vào tổng cộng 26 địa điểm của Việt Nam, những khu vực bị tấn công dữ dội nhất từ đợt tấn công đầu tiên này là Lào Cai, Mường Khương, Cao Bằng, Lạng Sơn và Móng Cái. Tất cả các hướng tấn công đều có hàng hàng lớp lớp xe tăng, pháo binh hỗ trợ. Quân Trung Quốc vừa chiếm ưu thế về lực lượng, vừa chủ động về thời gian tiến công, lại còn có "lực lượng thứ 5" gồm một bộ phận Hoa kiều và người Việt gốc Hoa cài cắm từ lâu trên đất Việt Nam. Tuy nhiên, cũng có nhiều người Hoa, người gốc Hoa, người Minh Hương đứng về phía VN, chống lại bọn gây chiến xâm lược Bắc Kinh và chủ nghĩa bá quyền.

Từ đêm 16 tháng 2, các tổ thám báo Trung Quốc đã mang theo bộc phá luồn sâu vào nội địa Việt Nam móc nối với "lực lượng thứ 5" lập thành các toán vũ trang phục sẵn các ngã ba đường, bờ suối, các cây cầu để ngăn chặn quân tiếp viện của Việt Nam từ phía sau lên. Trước giờ nổ súng, các lực lượng này cũng bí mật cắt các đường dây điện thoại để cô lập chỉ huy sư đoàn với các chốt, trận địa pháo. Cuộc chiến tranh xâm lược này đã được hoạch định chu đáo và tỉ mỉ. Trung Quốc muốn đem 5000 năm truyền thống văn hóa vào cuộc chiến, đem từ Tôn Tử binh pháp của Tôn Vũ, Long Trung quyết sách của Khổng Minh, Tam Quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Luận trì cửu chiến của Mao Trạch Đông, đến những kinh nghiệm, bài học xương máu trong Chiến tranh Trung - Nhật, Nội chiến Trung Quốc và Chiến tranh Triều Tiên vào cuộc chiến, đem kinh nghiệm từ 5000 năm lịch sử vào trong cuộc chiến.

Hùng hổ, hung hãn xua quân tấn công khắp nơi, kéo quân đánh mạnh vào những trọng điểm phòng ngự, thế tiến quân như chẻ tre trong thời gian đầu, nhưng quân Tàu nhanh chóng bị hụt hẫng và phải chững lại, phải giảm tốc độ do gặp nhiều trở ngại về địa hình, phong thổ, khí hậu. Họ gặp khó khăn vì địa lý rừng núi hiểm trở của Việt Nam, và chịu nhiều bệnh tật từ thiên nhiên, vi khuẩn, điều mà hơn 30 vạn quân Pháp và gần 60 vạn quân Mỹ đã nếm trải cách đây không lâu. Và hệ thống hậu cần lạc hậu của họ càng làm cho địa lý hiểm trợ, kiên cố, thiên nhiên ưu đãi của VN càng phát huy tác dụng.

Hệ thống phòng thủ của Việt Nam dọc theo biên giới rất mạnh, với các hầm hào, hang động tại các điểm cao dọc biên giới do lực lượng quân sự có trang bị và huấn luyện tốt trấn giữ. Kết quả là Trung Quốc phải chịu thương vong lớn. Trong ngày đầu của cuộc chiến, chiến thuật dùng biển lửa (hỏa hải), biển người (nhân hải), và "tiền pháo hậu xung" của giặc đã gây không ít khó khăn cho ta, họ tiến được vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam hơn 10 dặm và cướp phá một số thị trấn. Chiến sự ác liệt nhất diễn ra tại các vùng Bát Xát, Mường Khương ở Tây Bắc và Đồng Đăng, cửa khẩu Hữu Nghị, Thông Nông ở Đông Bắc. Quân Trung Quốc cũng đã vượt sông Hồng và đánh mạnh về phía Lào Cai.

Việt Nam dùng chiến thuật phòng ngự mềm dẻo, đánh tiêu hao, từng bước làm hao mòn sinh lực giặc, "cong nhưng không gãy" (bend but don't break defense), phát huy cao độ nghệ thuật chiến tranh du kích và hiệu quả chiến tranh nhân dân, tận dụng địa thế hiểm trở, ưu thế về địa lợi, nhân hòa, phong thổ khắc nghiệt với quân thù, mà thường xuyên tổ chức mai phục, đặt phục binh phục kích, đánh lén, đánh úp, đánh tập hậu, tận dụng yếu tố bất ngờ, thoạt ẩn thoạt hiện v.v. Có nơi vừa đánh vừa lui chiến thuật, nhử địch vào sâu, vào hiểm địa. Có nơi giữ được chút nào hay chút nấy, cố gắng tiêu diệt sinh lực địch.

Từng bước dụ địch vào sâu, câu giờ, hoãn binh, chờ các đơn vị chủ lực từ phía Nam quay về trợ chiến, cùng nhau tung một mẻ lưới, phá giặc trong một trận quyết chiến chiến lược lớn và thừa thế mở rộng tổng phản công, truy quét địch, với sức của 5 sư đoàn hàng rào sẽ đổi vai trò từ thủ sang công, và với khí thế và sức mạnh của các đơn vị chính quy từ phía Nam, sẽ phá tan giặc và đuổi giặc về nước. Đó là chiến lược cơ bản của Việt Nam. Nhưng Trung Quốc cũng "đáo để", trong chiến cuộc họ đã nảy sinh nghi ngờ nên họ liên tục tuyên truyền rằng đây là cuộc chiến tranh giới hạn, chừa cho mình một con đường lui, chừa một cái thang để leo xuống, và khi "đánh hơi" thấy gì không đúng thì sẽ rút lui ngay. 

Trong hai ngày 18 và 19 tháng 2, chiến sự lan rộng hơn. Quân ta kháng cự anh dũng và với tinh thần chiến đấu cao độ. Quân giặc hầu như không thể sử dụng lực lượng ở mức sư đoàn mà phải dùng đội hình nhỏ và thay đổi chiến thuật. Họ tiến chậm chạp, giành giật từng đường hầm, từng điểm cao, và tiến vào Mường Khương, Trùng Khánh, và Đồng Đăng. Tại Móng Cái, ta và địch giành giật dai dẳng. Ít nhất 4.000 lính Trung Quốc bỏ xác trong hai ngày đầu này. Sau hai ngày chiến tranh, quân cướp nước đã vào được 11 làng mạc và thị trấn sau khi bị chống trả ác liệt, nhưng họ cũng không thể sử dụng được nhiều tài nguyên trong những vùng tạm chiếm, họ không thể “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” vì gặp khó khăn trước mẹo "vườn không nhà trống" của quân dân biên giới.

Quân Tàu dùng chiến thuật biển người và tiền pháo hậu xung bao vây Đồng Đăng, thị trấn có vị trí then chốt trên đường biên giới Trung - Việt. Trận chiến tại Đồng Đăng bắt đầu ngay từ ngày 17 và là trận ác liệt nhất. Đây là trận địa phòng thủ của Trung đoàn 12 Tây Sơn, Sư đoàn 3 Sao Vàng đầy quân công chiến tích.

Tấn công vào Đồng Đăng là 2 sư đoàn bộ binh, 1 trung đoàn xe tăng, và chi viện của 6 trung đoàn pháo binh Trung Quốc. Cụm điểm tựa Thâm Mô, Pháo Đài, 339 tạo thế chân kiềng bảo vệ phía Tây Nam thị xã Đồng Đăng, do lực lượng của 2 tiểu đoàn 4, 6, Trung đoàn 12 trấn giữ, bị Trung Quốc bao vây và tấn công dồn dập ngay từ đầu với lực lượng cấp sư đoàn. Đây là địa điểm then chốt nên lực lượng phòng thủ đã chiến đấu đến những người cuối cùng, viện binh bị quân Trung Quốc dự liệu trước nên đã dàn quân khắp nơi án ngữ, chăn chận.

Đồng Đăng trụ được cho đến ngày 22. Ngày cuối cùng tại Pháo Đài, nơi có hệ thống phòng thủ kiên cố nhất, địch liên tục bắc loa kêu gọi đầu hàng, hù dọa, dụ dỗ, nhưng quân ta kiên quyết chống trả tới hơi thở cuối cùng, giọt máu cuối cùng. Quân Trung Quốc chở bộc phá tới đánh sập cửa chính, dùng súng phun lửa, thả lựu đạn, dùng vũ khí hóa học thu được từ phát xít Nhật và quân Tưởng Giới Thạch trước đây bắn vào các lỗ thông hơi làm thiệt mạng cả những thương bệnh binh cũng như dân quanh vùng đến đây lánh nạn.

Ngày 19 tháng 2, Đặng Tiểu Bình kiên trì với kế sách cũ, cố ý đi gặp giới ngoại giao Argentina và tuyên bố "đây chỉ là cuộc chiến tranh hạn chế" để trấn an dư luận, muốn Việt Nam bị hoang mang, và chừa một đường lui, giữ một chiếc thang để trèo xuống. Cùng ngày, Liên Xô viện trợ gấp một số vũ khí khí tài cho Việt Nam qua cảng Hải Phòng, đồng thời dùng máy bay vận tải chuyển một số sư đoàn chủ lực của Việt Nam từ Campuchia về.


Đến 21 tháng 2, Trung Quốc tăng cường thêm 2 sư đoàn và tiếp tục tấn công mạnh hơn nữa. Ngày 22, các thị xã Lào Cai và Cao Bằng bị chiếm. Quân Trung Quốc tấn công thêm một số vùng tại Hà Tuyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, và Quảng Ninh. Chiến sự lan rộng tới các khu đô thị ven biển ở Móng Cái. Về phía Việt Nam, cùng lúc với việc triển khai phòng ngự quyết liệt, khoảng từ 3 đến 5 sư đoàn (gồm khoảng 3 vạn quân) cũng được giữ lại để thành lập một tuyến phòng ngự cánh cung từ Yên Bái tới Quảng Yên với nhiệm vụ bảo vệ Hà Nội và Hải Phòng.

Ngày 23 tháng 2, Đặng Tiểu Bình thấy quân đội và vũ khí bị tổn thất quá nhiều, thấy hình hình có vẻ không ổn, liền nhắc lại tuyên bố về "cuộc chiến tranh hạn chế" và nói tùy theo tình hình có thể rút quân trong vòng 10 ngày hoặc hơn. Tuyên bố nước đôi, ba phải, huề vốn này được xem là thông điệp nhằm ngăn Liên Xô tăng cường áp lực quân sự ở biên giới Trung - Xô, xoa dịu dư luận trong và ngoài nước, gây khó hiểu cho Việt Nam, làm giảm xuống tinh thần chiến đấu của VN, và chừa một con đường lui, giữ lại quốc thể một khi thua trận.

Trong khi đó, một tuần dương hạm Sverdlov và một khu trục hạm Krivak của Liên Xô đã rời cảng từ ngày 21 tiến về phía vùng biển Việt Nam. Liên Xô cũng đã bắt đầu dùng máy bay giúp Việt Nam chở quân lính và vũ khí ra Bắc. Hai chuyến bay đặc biệt của Liên Xô và Bulgaria chở vũ khí khí tài bay tới Hà Nội. Một phái đoàn quân sự của Liên Xô cũng bay tới Hà Nội.

Ngày 26 tháng 2, thêm nhiều quân Trung Quốc tập trung quanh khu vực Lạng Sơn chuẩn bị cho trận chiến đánh chiếm thị xã này. Ngày 25 tháng 2, tại Mai Sao, Quân đoàn 14 thuộc Quân khu 1, Quân đội Nhân dân Việt Nam cùng Bộ chỉ huy thống nhất Lạng Sơn được thành lập, lực lượng bao gồm các sư đoàn 3, 327, 338, 337 (đang từ quân khu 4 ra) và sau này có thêm sư đoàn 347 cùng các đơn vị trực thuộc khác.

Trong giai đoạn đầu đến ngày 28 tháng 2 năm 1979, quân Trung Quốc đánh chiếm các thị xã Lào Cai, Cao Bằng, và một số thị trấn. Các cơ sở vật chất, kinh tế ở những nơi này bị phá hủy triệt để. Tuy nhiên, do vấp phải sự phòng ngự hiệu quả của Việt Nam cũng như có chiến thuật lạc hậu so với phía Việt Nam nên quân Trung Quốc tiến rất chậm và bị thiệt hại nặng nề. Quân đội Nhân dân Việt Nam còn mở cuộc tấn công khá sâu vào lãnh thổ Trung Quốc, đánh thẳng vào hai thị trấn biên giới Ninh Minh thuộc tỉnh Quảng Tây và Malipo thuộc tỉnh Vân Nam của Trung Quốc.

Giai đoạn 2:

Giai đoạn 2 bắt đầu từ ngày 27 tháng 2. Đây là giai đoạn bộc lộ sự gian dối, tráo trở và dã tâm xâm lược của Trung Quốc. Chiến sự tập trung tại Lạng Sơn tuy giao tranh tại Lào Cai, Cao Bằng, và Móng Cái vẫn tiếp diễn. Trận đánh chiếm thị xã Lạng Sơn bắt đầu lúc 6 giờ sáng cùng ngày. Trung Quốc điều tới đây thêm 2 sư đoàn từ Đồng Đăng và Lộc Bình (phía Đông Nam Lạng Sơn). Áp dụng chính sách hai mặt, Trung Quốc tiếp tục điều quân từ Trung Quốc sang Việt Nam để tăng viện, trợ lực, tiếp chiến. Điều này đã cho thấy những lời hứa hẹn "cuộc chiến giới hạn", "có thể sẽ rút quân" chỉ là dối trá. Một mặt họ tuyên bố đây là cuộc chiến "giới hạn", mặt khác họ điều thêm quân. Họ vừa tuyên bố có thể sẽ rút quân vừa tăng cường thêm quân mới. Thay vì giữ lời rút quân về sau giai đoạn 1, thì họ tiếp tục giai đoạn 2 và tăng cường, bổ sung thêm đông đảo viện binh từ chính quốc.

Tại Lạng Sơn, các Sư đoàn 3, 337, của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã tổ chức phòng thủ chu đáo và đánh trả mãnh liệt trước các đợt tấn công lớn của quân xâm lược. Từ ngày 2 tháng 3, Sư đoàn 337 trụ tại khu vực cầu Khánh Khê. Một mình Sư đoàn 3 QĐNDVN chống lại 3 sư đoàn bộ binh 160, 161, 129, cùng nhiều tăng, pháo của TQ, vốn đang tiến công trên một chiều dài 20 km từ xã Hồng Phong huyện Văn Lãng đến xã Cao Lâu huyện Cao Lộc.

Suốt ngày 27 cùng tháng, ở hướng Cao Lộc, sư đoàn 129 Trung Quốc không phá nổi trận địa phòng thủ của trung đoàn 141; ở hướng đường 1B, sư đoàn 161 TQ bị trung đoàn 12 QĐNDVN kìm chân; ở hướng đường 1A, một mình trung đoàn 2 QĐNDVN vừa chặn đánh sư đoàn 160 từ phía Bắc vừa chống lại cánh quân của sư đoàn 161 từ hướng Tây Bắc bất ngờ đánh thọc sang vào hông, một mình chống cự lại 2 cánh quân của giặc chia quân đánh ập vào hai bên hông, bên sườn của mình.

14 giờ ngày hôm đó, 1 tiểu đoàn giặc bí mật luồn qua phía sau bất ngờ đánh tập hậu và chiếm được điểm cao 800, nơi đặt đài quan sát pháo binh của sư đoàn 3 Sao Vàng. Mất điểm cao 800, thế trận phòng ngự của ta ở phía tây đường 1A từ Cốc Chủ đến điểm cao 417 bị chọc thủng.

Tuy chiếm được điểm cao 800 và Tam Lung, nhưng trong suốt các ngày từ 28 tháng 2 đến 2 tháng 3, quân xâm lược vẫn không vượt qua được đoạn đường 4 km để vào thị xã Lạng Sơn, dù đã dùng cho hướng tiến công này tới 5 sư đoàn bộ binh để đánh ập vào (đúng như lời Đặng Tiểu Bình nói: 5 đánh 1) mà vẫn không vượt qua nổi.

Sau nhiều trận đánh đẫm máu giành giật các điểm cao quanh Lạng Sơn, mà trong đó có những trận quân phòng thủ Quân đội Nhân dân Việt Nam bắn hết viên đạn cuối cùng, đánh tới người lính cuối cùng, quyết chiến liều mạng chết chung với giặc, có những lần giặc ném lựu đạn vào, chưa kịp nổ thì ta nhanh tay cầm lựu đạn ném trả lại, có những lúc những chiến sĩ QĐNDVN anh hùng đã rút chốt lựu đạn lao vào cùng chết với giặc trong những trận giáp chiến xáp lá cà.

Quân Trung Quốc bắt đầu bao vây thị xã Lạng Sơn ngày 2 tháng 3 sử dụng thêm sư đoàn 162 dự bị chiến dịch của Quân đoàn 54 và dùng 6 sư đoàn tấn công đồng loạt trên nhiều hướng. Chiều ngày 4, một cánh quân Trung Quốc đã vượt sông Kỳ Cùng, chiếm điểm cao 340 và vào tới thị xã Lạng Sơn, một cánh quân khác của sư đoàn 128 Trung Quốc cũng chiếm sân bay Mai Pha, điểm cao 391 ở phía Tây Nam thị xã.

Đến đây, phía Việt Nam đã điều các sư đoàn chủ lực có xe tăng, pháo binh, không quân hỗ trợ áp sát mặt trận, chuẩn bị phản công giải phóng các khu vực bị chiếm đóng. Quân đoàn 14 với các sư đoàn 337, 327, 338 hầu như còn nguyên vẹn đang bố trí quân quanh thị xã Lạng Sơn. Quân đoàn 2, chủ lực của Quân đội Nhân dân Việt Nam, đã tập kết sau lưng Quân đoàn 14.



Lui quân về nước

Sau khi thấy các lực lượng chủ lực của Việt Nam đã đến nơi và các lực lượng chính quy khác cũng đang ầm ầm kéo quân ra Bắc, cộng với kết quả thương vong, tổn thất to lớn của Trung Quốc, ngày 5 tháng 3 năm 1979, Đặng Tiểu Bình tuyên bố đã "hoàn thành mục tiêu chiến tranh", "chiến thắng" và bắt đầu rút lui. Cũng ngày 5 tháng 3 năm 1979, Việt Nam ra lệnh tổng động viên toàn quốc. Mặc dù Trung Quốc tuyên bố rút quân, chiến sự vẫn tiếp diễn ở một số nơi.

Việt Nam bí mật điều động sư đoàn 338 mai phục ở ngả Chi Mã, rồi ngày 7 tháng 3 nói với Trung Quốc rằng để thể hiện thiện chí hòa bình, Việt Nam sẽ cho phép Trung Quốc rút quân, nhưng sau đó bất ngờ cho sư đoàn 337 truy kích, ý muốn đánh đuổi và đẩy quân Trung Quốc vào địa điểm đã có phục binh. Sư đoàn 337 của Việt Nam vốn đã tham chiến từ ngày 2 tháng 3 tại khu vực cầu Khánh Khê ở Lạng Sơn để tiếp viện cho các đơn vị đang chặn đánh quân Trung Quốc. Sư đoàn này đến nơi quá muộn để thay đổi cục diện trận đánh tại Lạng Sơn, và do thời gian phối hợp không ăn ý giữa 2 sư đoàn 337 và 338, và với sự đề phòng từ trước của Trung Quốc (phục binh bị phát hiện sớm, giặc chưa vào sâu trận địa mai phục), cuộc truy kích và phục kích đã không đem lại kết quả đại thắng như mong đợi. Nhưng 2 sư đoàn này cũng tổ chức phản kích đánh vào quân xâm lược đang tháo lui qua ngả Chi Mã và gây tổn thương lớn cho giặc. Đầu tiên là sư đoàn 338 tuy bị phát hiện nhưng vẫn chặn đánh quân xâm lăng, sau đó sư đoàn 337 đến muộn nhưng vẫn tận lực trợ chiến, hai lực lượng đã hiệp đồng tác chiến một cách hiệu quả, gây thiệt hại nặng cho quân cướp nước. Sau vụ này, tướng Hứa Thế Hữu nói: Người Việt Nam quả thật gian trá.

Ngày 18 tháng 3 năm 1979, người lính Trung Quốc cuối cùng đành ôm vết thương thể xác và tinh thần rời khỏi Việt Nam. Việt Nam đã thành công gây tổn thương nặng cho quân giặc cả về quân đội và vũ khí, nhân mạng và khí tài, và đánh lui, đẩy lùi quân giặc ra khỏi cõi bờ, bảo vệ thắng lợi miền Bắc và biên giới phía Bắc, viết thêm một trang sử hào hùng trong lịch sử chống ngoại xâm, chống Bắc xâm của dân tộc.


Đối với người dân Campuchia, Quân đội Nhân dân Việt Nam được coi là “Đội quân nhà Phật”, nhưng đối với giặc Nam, giặc Bắc thì các chiến sĩ QĐNDVN đã chiến đấu anh dũng không kém tổ tiên, không thẹn với tiền nhân, không hổ danh với ông cha anh hùng, và xứng danh Bộ đội cụ Hồ.