Thiếu Long
Cuộc chiến chống bè lũ bành trướng
phương Bắc năm 1979 là một trang sử hào hùng, oanh liệt trong lịch sử giữ nước
mấy ngàn năm của dân tộc Việt Nam, nói lên tinh thần bất khuất, tự lực tự cường
và sự trường tồn bất diệt của dân tộc ta. Đó là cuộc chiến quy mô chống Bắc
xâm, chống ngoại xâm gần đây nhất, và chắc sẽ không phải là cuối cùng trong
lịch sử Việt Nam.
Đó là một cuộc chiến tổng lực, quy mô,
và khốc liệt giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam, nổ ra vào ngày 17 tháng 2 năm 1979 khi Trung Quốc xua hơn 50 vạn quân (tài
liệu của Sư đoàn 3 Sao Vàng QĐNDVN: 65 vạn, tài liệu của NXB Sự thật: 60 vạn,
tài liệu Trung Quốc: 20 vạn, tài liệu Thủy quân Lục chiến Mỹ: 30-40 vạn, tài
liệu Đài Loan: 20-40 vạn, tài liệu nhiều nước phương Tây như Tây Ban Nha, Bồ
Đào Nha, Hà Lan đều nhất trí là 60 vạn) tấn công tổng lực Việt Nam trên toàn
tuyến biên giới trên bộ giữa hai nước, cuộc chiến kéo dài hơn 1 tháng và quân
Tàu phải rút đi sau khi bị tổn thất nặng nề về nhân mạng cũng như vũ khí, và
không có mục tiêu chiến lược, chiến thuật nào đạt được.
Quan hệ thù địch giữa Việt Nam và
Trung Quốc kéo dài từ đó đến năm 1992, hai bên có thỏa thuận "không tuyên
truyền chống nhau" nhằm bình thường hóa hoàn toàn quan hệ giữa hai nước,
do đó cuộc chiến tranh 1 tháng này (cũng như cuộc chiến tổng phản công vào sào
huyệt Khmer Đỏ) không còn được nhắc nhiều trên thông tin đại chúng, vì lợi ích
ngoại giao, vì quan hệ thân thiện giữa 2 nước, hay như cựu Bí thư thứ nhất Đại
sứ quán Trung Quốc Dương Danh Dy nói với Trung Quốc: Việt Nam vì đại nghĩa mà
không nhắc lại chứ không phải vì sợ hãi hay chóng quên.
Việt Nam và Trung Quốc là láng giềng
sát bên nhau, có vị trí địa lý núi liền núi - sông liền sông, do đó có những sự
tế nhị, nhạy cảm nhất định về truyền thông chính thống. Tuy vậy, những phương
tiện truyền thông phi chính thống như diễn đàn, blogs trên Internet thì không
có gì phải ngại.
Tôi viết bài này là mong cung cấp một
góc nhìn hơi khác và đa diện, đa chiều, đầy đủ về cuộc chiến này, và cũng hy
vọng nhiều bạn khác tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu, thảo luận, tham luận về đề
tài này, nhằm truyền tải các thông tin chi tiết, cụ thể về cuộc chiến, nâng cao
tinh thần tự hào dân tộc, góp phần "truyền lửa" lại cho thế hệ trẻ và
đời sau, đề cao cảnh giác với người hàng xóm AQ "thâm nho" phức tạp,
bạn thù lẫn lộn khó phân, và củng cố lòng tin vào trường phái ngoại giao Hồ Chí
Minh, đường lối đối ngoại của Đảng và chính sách ngoại giao của Chính phủ.
Trong những ngày này 33 năm trước,
những người con ưu tú đất Việt, những Bộ đội cụ Hồ trong Quân đội Nhân dân Việt
Nam anh hùng đã chiến đấu quyết liệt chống trả lại cuộc chiến tranh xâm lược
phi nghĩa, phi nhân của bè lũ Đặng Tiểu Bình trên cả 2 chiến trường, 2 mặt trận
phía Nam và phía Bắc... Bài viết này nói lên sự một sự tri ân sâu sắc đối những
vị anh hùng, những người con ưu tú của dân tộc, những người đã viết lên một
trang sử vàng trong cuộc chiến đấu chống Bắc xâm năm 1979.
Liên minh Việt -
Trung từ lịch sử cận đại
Trong lịch sử cổ đại và trung đại Việt
Nam, ngoài sự kiện thái tử Triệu Trung của nhà Tống cùng tàn quân sang Đại Việt
tỵ nạn dưới trướng nhà Trần, sau đó cùng chống Nguyên Mông, thì không có trường
hợp Việt - Trung liên minh cùng nhau chống lại một thế lực xâm lược từ bên
ngoài.
Trong lịch sử cận đại Việt Nam thì có
chuyện đó, do sự bành trướng toàn cầu của chủ nghĩa tư bản, thực dân, đế quốc,
các đế quốc lớn từ phương Tây xâm lăng chinh phạt khắp thế giới, khắp năm châu
từ Á sang Âu đều in đậm dấu chân viễn chinh của họ. Tình thế, thời cuộc, và
hoàn cảnh lịch sử thời đó đã thúc đẩy hai nước châu Á Việt - Trung đến với nhau
cùng chống lại hiểm họa này, do hai nước cùng là nạn nhân của chủ nghĩa thực
dân, đế quốc, cùng có những kẻ thù chung. Tuy nhiên, sự liên minh, hợp tác giữa
2 triều đình, 2 nhà nước, chưa bao giờ tin cậy nhau hoàn toàn và thân thiết với
nhau thật sự. Mỗi bên đều có những tính toán riêng, mỗi bên đều vì lợi ích của
mình.
Năm 1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha
đổ bộ tấn công vào cảng Đà Nẵng và sau đó xâm chiếm Sài Gòn. Quân Pháp sau đó
mở rộng chiến tranh xâm lược ra toàn miền Nam Việt Nam. Năm 1862, vua Tự Đức ký
hiệp ước nhượng ba tỉnh miền Đông Nam Bộ cho Pháp. Năm 1867, Pháp chiếm nốt ba
tỉnh miền Tây Nam Bộ, tạo thành một lãnh thổ thuộc địa Cochinchine (Nam Kỳ) ở
Nam Kỳ Lục tỉnh.
Trong thời gian đó, triều đình nhà
Nguyễn chia làm nhiều phe, trong đó có 3 phe tiêu biểu là phe chủ trương đầu
hàng (tự nhận là "chủ hòa") do đại thần Trần Tiễn Thành đứng đầu, phe
chủ chiến do Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường lãnh đạo, và phe "chủ
thủ" do chưởng quản Cơ-mật-viện Trương Đăng Quế chủ trì. Trong đó phe đầu
hàng là lớn nhất, tuy nhiên Tôn Thất Thuyết lại là người nắm binh quyền. Sau khi
vua Tự Đức băng hà, các hoàng tử còn bé, triều đình Huế lâm vào khủng hoảng,
đại loạn, Tôn Thất Thuyết sẵn binh quyền trong tay, cùng với đồng liêu Nguyễn
Văn Tường và những con trai của ông, dùng quân bản bộ "Phấn nghĩa"
trấn áp triều đình và phế các ấu chúa cũ mà lập nên vua Hàm Nghi, quyết chống
"Phú Lang Sa" đến cùng. Sau khi thất bại trong trận đánh úp quân Pháp
ở kinh thành Huế, Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghi ra Tân Sở lập căn cứ chống
Pháp, truyền hịch Cần vương, từ đó Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường lãnh tụ
của phe chủ chiến, lãnh đạo phong trào Cần vương thường xuyên liên lạc với nhà
Thanh xin giúp đỡ chống Pháp. Đích thân Tôn Thất Thuyết cũng sang Đại Thanh
nhiều lần để cầu viện chống Pháp.

Triều đình nhà Thanh đồng ý sang đánh
Pháp cho triều Nguyễn, cho Đại Nam, cùng với quân Cờ Đen (Hắc Kỳ quân) của
tướng Lưu Vĩnh Phúc, một lực lượng quân phiệt cát cứ quanh biên giới Việt -
Trung. Chiến tranh Pháp - Thanh nổ ra ở Bắc Việt, là cuộc chiến giữa Đệ Tam
Cộng hòa Pháp và liên quân Đế chế Mãn Thanh - quân Cờ Đen - quân nhà Nguyễn chủ
chiến (do phò mã Hoàng Kế Viêm thống lĩnh), diễn ra từ tháng 9 năm 1884 tới
tháng 6 năm 1885. Cuộc chiến nổ ra vì Pháp muốn kiểm soát vùng đồng bằng Bắc Bộ
và con đường nối từ thành Hà Nội đến tỉnh Vân Nam của Trung Hoa. Nhà Thanh
ngược lại muốn ngăn cản sự hiện diện quân sự của Pháp tại Bắc Kỳ, vì điều này sẽ
trực tiếp uy hiếp vùng biên giới phía Nam của họ. Sâu xa hơn nữa, là nhà Thanh
muốn nhân cơ hội này để thừa cơ chiếm đoạt hoặc là duy trì ảnh hưởng của mình
đối với An Nam, xưa nay vốn là "chư hầu" phong kiến của Trung Hoa.
Trước đó, khi phái chủ chiến của triều
Nguyễn qua cầu viện, tổng đốc Lưỡng Quảng là Trương Thụ Thanh đã gửi mật sớ lên
triều đình Mãn Thanh, có đoạn nói rằng: "Nước Nam và nước ta tiếp giáp với
nhau mà thế lực nước Nam thật là suy hèn, không có thể tự chủ được nữa, vậy ta
nên mượn tiếng sang đánh giặc mà đóng giữ ở các tỉnh thượng du. Đợi khi có biến
thì ta chiếm lấy những tỉnh ở về phía Bắc sông Hồng Hà"; bởi vậy Thanh
triều mới sai Tạ Kính Bưu, Đường Cảnh Tùng đem quân sang đóng ở Bắc Ninh và Sơn
Tây, sau lại sai quan bố chính Quảng Tây là Từ Diên Húc đem quân sang tiếp ứng.
Sau 9 trận chiến lớn và nhiều trận
đánh nhỏ khác, trong đó có trận Cầu Giấy nổi tiếng năm 1883 khi đại tá hải quân
Henri Rivière bị liên quân Cờ Đen - Nguyễn giết chết, tuy nhiên cuối cùng liên
quân Thanh - Cờ Đen - Nguyễn cũng thua cuộc, quân đội Pháp đã chiến thắng. Sau
khi giành quyền làm chủ miền Bắc Việt Nam, chính phủ Pháp tuyên bố là họ sẽ bảo
hộ Bắc Kỳ (Tonkin) và Trung Kỳ (Annam). Sau đó họ tiếp tục duy trì các hoàng đế
bù nhìn cho đến Bảo Đại.
Một trong những nguyên nhân thất bại
là vì sự không thật lòng giúp Đại Nam chống Pháp của nhà Thanh, hai bên không
thật lòng liên minh với nhau. Còn quân Cờ Đen (Trung Quốc) gần như chỉ là một
quân đội đánh thuê mặc dù Lưu Vĩnh Phúc cũng có tinh thần chống phương Tây cao
độ.
Hải quân Pháp đánh chìm chiến thuyền
Trung Hoa tại Phúc Châu
Liên minh Việt -
Trung từ lịch sử hiện đại
Sau khi nước Việt Nam phục hồi độc
lập, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời năm 1945, Pháp quay lại xâm lược
lần thứ hai với tham vọng tái chiếm thuộc địa, không muốn bỏ mất thuộc địa
"béo bở" Đông Dương, không muốn bỏ mất "Hòn ngọc Viễn Đông"
(hòn ngọc ở phương Đông xa xôi) của mình.
Trong kháng chiến chống Pháp, CHND
Trung Hoa sau khi thành lập năm 1949, cũng có giúp đỡ một cách hạn chế cho Việt
Nam DCCH chống Pháp. Họ cử một phái đoàn cố vấn vài chục chuyên gia quân sự
sang tham mưu với tướng Võ Nguyên Giáp, nhưng chỉ có ý nghĩa tượng trưng và có
ý nghĩa thắt chặt tình nghĩa quan hệ gần gũi hơn là cố vấn có hiệu quả, có tác
dụng thật sự.
Sau khi Việt Nam thắng trận quyết
chiến chiến lược Điện Biên Phủ chấn động thế giới, giải phóng miền Bắc, giành
được độc lập tự chủ thực tế trên nửa nước, lúc ấy quân dân ta vẫn đủ sức để
chiến đấu giải phóng nốt miền Nam, nhưng Đảng và Bác Hồ muốn tranh thủ hòa
bình, dưỡng sức nuôi quân, và không muốn đồng bào, chiến sĩ phải tổn thất thêm,
xương máu đổ xuống thêm, đất nước bị tàn phá thêm, và cũng không muốn "ép
vào chân tường", chọc giận con thú dữ bị thương, nên đã mở ra một con
đường cho Pháp "xuống thang" và cho họ giữ được quốc thể, chấp nhận
nghị hòa và đàm phán trong hội nghị quốc tế Genève.
Lúc này Trung Quốc đáng lý ra là đồng
minh của Việt Nam, nhưng quan điểm của họ trong hội nghị này lại không đồng
thuận với quan điểm của VN, không phù hợp với lợi ích của VN, mà lại đồng thuận
với quan điểm của Pháp, thích hợp với lợi ích của Pháp. Do họ không muốn Việt
Nam hoàn toàn thắng Pháp, không muốn thấy một VN thống nhất, mạnh mẽ hiên ngang
ở phương Nam, mà chỉ muốn thấy một VN không yếu, không mạnh, đủ sức chống thực
dân đế quốc phương Tây nhưng vẫn phải nhờ vào sự giúp đỡ của họ, giữ cho VN
không thắng, không thua, giúp đủ cho VN không bại, không chết, nhưng cũng phá
cho VN không thắng. Họ muốn nhìn thấy một VN bị chia cắt lâu dài.
Trong khoảng thời gian cuối thập niên
1960, đầu thập niên 1970, Trung Quốc từng bước phản bội Việt Nam, họ muốn tranh
giành địa vị đứng đầu khối XHCN với Liên Xô, nhưng lại không ép được Việt Nam
bỏ Liên Xô, chống Liên Xô, đứng về phía họ hoàn toàn.
Trước đây, Trung Quốc thật sự chống
Pháp - Mỹ nên đã giúp đỡ VN một cách hạn chế, một cách có toan tính. Họ giúp
nhưng chỉ giới hạn ở mức đủ cho VN giữ được miền Bắc và có thể những vùng giải
phóng ở miền Nam, chứ họ không muốn VN thật sự thắng Mỹ và hoàn toàn giải phóng
miền Nam, họ không muốn thấy 1 Việt Nam thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, hùng
cường hiên ngang ở phương Nam, ngáng chân chủ nghĩa bành trướng khu vực của họ
và cạnh tranh kinh tế với họ. Do đó, Trung Quốc luôn giúp đỡ Việt Nam một cách
cầm chừng, dè dặt, thận trọng, và không hết lòng, thật dạ.
Trung Quốc chỉ muốn nhờ sức Việt Nam
che chắn cho Trung Quốc được an toàn, xem VN là một vùng đệm để giữ khoảng cách
an toàn tối thiểu trước mối đe dọa của chủ nghĩa đế quốc Mỹ, không muốn thế lực
Hoa Kỳ vượt qua VN mà đến gần cương thổ của họ, đe dọa an ninh quốc phòng của
họ.
Tuy nhiên, về sau họ ngày càng theo
hướng thực dụng, hữu khuynh, muốn đi cửa sau, đi đêm với Mỹ để chống Liên Xô,
tranh giành quyền lực và ngôi vị với LX trong khối XHCN. Từ lúc Đặng Tiểu Bình
giành ưu thế trong cuộc chiến tranh giành quyền lực nội bộ, Trung Quốc từng
bước phản bội lại tinh thần vô sản quốc tế, nghĩa vụ quốc tế, dần ra mặt chống
Liên Xô, phản Việt Nam, "ngoại giao bóng bàn" với Mỹ và từng bước
thỏa hiệp, toa rập, thông đồng với nhau để chống Liên Xô và Việt Nam.
Trung Quốc muốn cải cách, thay đổi
chính sách đối ngoại từ "cận giao viễn công" (hòa gần, chống xa, nói
nôm na theo dân gian VN là "bán bà con xa, mua láng giềng gần") sang
"viễn giao cận công" (hòa xa, chống gần), hướng về trời Tây, mở ra
với thế giới phương Tây, họ muốn "phá băng", nối lại chiếc cầu với Mỹ
và dùng Mỹ làm chiếc cầu nối họ đến với phương Tây. Đặng Tiểu Bình biết phá
băng được với Mỹ là sẽ phá băng và mở ra được với Anh, Pháp, và các nước phương
Tây. Mỹ thì muốn dùng Trung Quốc để chống Liên Xô, dùng cộng sản chống cộng
sản, chia rẽ khối XHCN, khoét sâu rạn nứt giữa Liên Xô và Trung Quốc, giữa phe
thân LX, phe thân TQ, và các đồng minh của 2 cường quốc cộng sản này. Và muốn
mượn tay Trung Quốc đâm sau lưng Việt Nam.
Vào cuối thập niên 1960, Trung Quốc
dùng đủ mọi cách để thuyết phục Việt Nam xa Liên Xô, xích gần và đứng hẳn về
phía Trung Quốc, nhu cương đủ cách, từ mềm mỏng, năn nỉ đến hù dọa cắt quan hệ
2 Đảng, 2 chính phủ, 2 nước, từ nói úp mở, xa gần, quanh co, bóng gió đến nói
thẳng, nói mạnh, nói nặng, từ lạnh nhạt đến biện pháp á khẩu (silent
treatment), ăn vạ, dùng vấn đề viện trợ để khi thì dùng làm "củ cà
rốt", lúc thì sử dụng làm "cây gậy" để dọa Việt Nam phải bỏ Liên
Xô, đứng về phía Trung Quốc, ủng hộ Trung Quốc trong sự mâu thuẫn với Liên Xô.
Nhưng Việt Nam vẫn không nao núng, Bí
thư thứ nhất Lê Duẩn sang Trung Quốc đã xác định rõ, nói thẳng, nói thật, tỏ
thái độ mạnh mẽ với họ rằng Việt Nam kiên quyết giữ vững đường lối ngoại giao
độc lập tự chủ, trung thành với nguyên tắc trung lập trong khối XHCN, nhất quán
với đường lối duy trì tình đoàn kết, hòa thuận trong đại gia đình XHCN. Tóm lại
đưa lên thông điệp trước sau như nhất: Tôi muốn đứng ở đâu thì đứng, tôi muốn
chơi với ai thì chơi.
Trung Quốc rất cay cú, BTTN Lê Duẩn
được tiễn về với một hình thức thất lễ chưa từng thấy trong nghi thức ngoại
giao thông thường. Để tăng áp lực bắt Việt Nam rời xa Liên Xô, chính phủ Trung
Quốc đã chỉ thị cho sứ quán của họ ở Hà Nội xúi giục, tổ chức người Hoa ở Việt
Nam gây rối, chống lại Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, cùng với mấy ngàn
người thuộc lực lượng hậu cần, dân phu Trung Quốc sang làm đường giúp Việt Nam
ở những tỉnh phía Bắc từ năm 1965 đến 1968, bọn phản động người Hoa tuyên
truyền chủ nghĩa Mao và cái gọi là “Cách mạng văn hóa” trong cộng đồng người
Hoa, xuyên tạc đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Hoa Nam Tình Báo Cục (Hoa Nam Cục, cơ
quan điệp báo chuyên trách các khu vực thuộc phía Nam Trung Hoa, Đài Loan, Đông
Dương, Đông Nam Á) tổ chức các mạng lưới gián điệp. Nhà cầm quyền Bắc Kinh còn
cho những điệp viên, nằm vùng dùng danh nghĩa “tỵ nạn cách mạng văn hóa”,
"tỵ nạn chính trị", "tỵ nạn Tứ nhân bang" (Bè lũ bốn tên)
thâm nhập, trà trộn vào các tỉnh biên giới Bắc Việt để công tác tình báo và tổ
chức các “đội quân thứ 5” (Trong cuộc hội đàm cấp cao Việt - Trung tháng 9 năm
1970, Mao Trạch Đông đã thừa nhận trách nhiệm của Trung Quốc đối với các hoạt
động không hữu nghị này. Tháng 11 năm 1977, Chủ tịch Hoa Quốc Phong lại một lần
nữa, thừa nhận như thế.).
Năm 1969, cái gọi là “Đại cách mạng
văn hóa” ở Trung Quốc về cơ bản hoàn thành. Chính phủ Bắc Kinh bên trong thì ra
sức củng cố quyền lãnh đạo của Mao Trạch Đông, ổn định tình hình, đẩy mạnh sản
xuất, bên ngoài thì thi hành mọi biện pháp để đẩy nhanh quá trình nhích lại gần
Mỹ nhằm ngoi lên địa vị một cường quốc lớn, bình thường hóa quan hệ Mỹ - Trung,
và giải quyết vấn đề Đài Loan. Họ tham vọng muốn lợi dụng Việt Nam để đạt mục
tiêu đối ngoại đó.
Năm 1969 là năm đầu của Nixon vào Nhà
Trắng. Ông ta đưa ra “học thuyết Nixon" nhằm cứu vãn và khôi phục địa vị
của đế quốc Mỹ trên thế giới đã bị suy yếu nghiêm trọng do hậu quả sa lầy và
hao binh tổn tướng trong Chiến tranh Việt Nam, Mỹ bắt đầu thực hiện chiến lược
“Phi Mỹ hóa chiến tranh” (sau đổi tên thành “Việt Nam hóa chiến tranh” để bớt
bộc lộ bản chất xâm lược) nhằm rút được đại quân chủ lực, quân chính quy Mỹ ra
khỏi miền Nam Việt Nam mà vẫn giữ được ngụy quyền bù nhìn Nguyễn Văn Thiệu, để
"thay màu da xác chết", thay xác người Mỹ bằng xác người Việt.
Từ năm 1969 trở đi là bắt đầu một thời
kỳ quân dân hai miền Nam-Bắc đẩy mạnh công cuộc chống Mỹ cứu nước trên chiến
trường cũng như tại Hội nghị Paris, ngày càng giành thêm nhiều thắng lợi. Đây
cũng là thời kỳ Bắc Kinh và Washington tăng cường tiếp xúc, bắt tay công khai
với nhau, bàn bạc không những các vấn đề song phương, mà còn những vấn đề quốc
tế và khu vực, trong đó có Đông Nam châu Á, bán đảo Đông Dương, bao gồm trọng
điểm Việt Nam.
Từ đầu thập niên 1970, theo cựu Bộ
trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert McNamara và nhà ngoại giao kỳ cựu, cựu cố vấn
an ninh quốc phòng Hoa Kỳ Henry Kissinger trả lời phỏng vấn trên báo New York
Times, Washington Post thì Mỹ và Trung Quốc đã thường xuyên "đi đêm"
với nhau. Kissinger đã nhiều lần sang Trung Quốc mật đàm với Chu Ân Lai, Hoa
Quốc Phong. Từ đó, Trung Quốc phát triển thành sách lược ngoại giao "liên
Mỹ đả Việt" (聯美打越). Họ tìm đến nhau,
sử dụng nhau, lợi dụng nhau, và cần nhau. Họ có cùng chung địch thủ là Liên Xô
và Việt Nam. Bắt đầu từ đó, Trung Quốc đã bắt đầu giở trò viện trợ đạn thối, vũ
khí hỏng, cũ kỹ, giấu không giao lại một số hàng Liên Xô viện trợ, viện cớ hư
hỏng, hoặc tháo gỡ bớt một số tính năng vũ khí của Liên Xô, vô hiệu hóa một số
tác dụng, làm giảm hiệu quả tác chiến.
Theo Hiệp định Paris về Việt Nam, Mỹ
phải rút thực binh ra khỏi miền Nam Việt Nam, cam kết tôn trọng các quyền dân
tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, và các bên ở Nam Việt Nam cùng thành lập một
Chính phủ liên hiệp ba thành phần. Đó là thắng lợi của đường lối độc lập, tự chủ
và cuộc chiến đấu ngoan cường của Việt Nam và cũng là thất bại của sự mua bán
đổi chác sau lưng Việt Nam giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc thể hiện trong Thông cáo
Thượng Hải mà Chu Ân Lai và Richard Nixon ký với nhau (trước đó Kissinger đã 2
lần mờ ám sang gặp lãnh đạo Trung Quốc để dàn xếp cho cuộc gặp thượng đỉnh
này).
Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và
Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam luôn luôn chủ trương thi hành nghiêm chỉnh
Hiệp định Paris về Việt Nam, và đòi hỏi Mỹ-Thiệu cũng phải có thái độ như vậy.
Nhưng Mỹ-ngụy đã không thi hành đàng hoàng Hiệp định đó, chỉ muốn thi hành
những điều khoản có lợi cho Mỹ. Còn hầu hết các điều khoản khác thì họ vi phạm
ngay từ đầu.
Lúc Hiệp định Paris bắt đầu có hiệu
lực cũng là lúc Mỹ-ngụy đưa hàng vạn quân có máy bay, trọng pháo và xe tăng yểm
trợ đổ bộ lên Cửa Việt hòng chiếm lấy vùng giải phóng phía Bắc tỉnh Quảng Trị.
Sau đó quân ngụy liên tục tấn công miền Nam Việt Nam, lấn chiếm nhiều vùng giải
phóng do Cộng hòa miền Nam Việt Nam quản lý. Âm mưu của Mỹ là xóa bỏ tình hình
thực tế có hai vùng, hai chính quyền, đặt lại toàn bộ miền Nam Việt Nam dưới
ách thống trị thực dân kiểu mới, kéo dài chiến tranh xâm lược.
Trung Quốc bề ngoài tỏ vẻ hoan nghênh
Hiệp định Paris về Việt Nam. Trên thực tế để thực hiện sự thỏa thuận với Mỹ và
tăng cường câu kết với Mỹ, đồng thời tiếp tục làm suy yếu Việt Nam, họ tìm mọi
cách cản trở cuộc đấu tranh của người Việt Nam nhằm đánh bại âm mưu của Mỹ phá
hoại Hiệp định Paris về Việt Nam, giải phóng hoàn toàn miền Nam và thống nhất
non sông.
Năm 1973, sau Hiệp định Paris về Việt
Nam, Trung Quốc "khuyên" Việt Nam "trường kỳ mai phục", ẩn
nhẫn chờ thời, thực chất là "nằm chờ sung rụng", tương tự như họ từng
"khuyên" VN với luận điệu như thế sau Hiệp định Genève về Đông Dương,
tóm lại là họ "khuyên đểu" VN không nên làm gì cả, họ không muốn Việt
Nam thắng Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Để tỏ "thiện
chí" với nhân dân Việt Nam và muốn "dụ dỗ" Việt Nam chấp nhận
sách lược "nằm yên chờ sung rụng" này, Trung Quốc hứa hẹn sẽ tiếp tục
viện trợ trong 5 năm. Sự thật là khi đó họ đã ngừng hoàn toàn viện trợ quân sự,
còn về viện trợ kinh tế họ nhận chủ yếu phục hồi các cơ sở do họ giúp trước đây
mà đã bị Mỹ dội bom đánh phá, nhưng lại cố ý kéo dài việc thực hiện, có nơi vờ
"quên" thực hiện.
Nhà cầm quyền Trung Quốc thực chất
muốn Việt Nam không làm gì cả, kể cả khi quân ngụy đánh vào và lấn chiếm vùng
giải phóng, cách mạng miền Nam làm một cái bị thịt, làm một bao cát mặc cho
địch đánh đấm tự do, nằm yên chờ chết.
Đứng trước thực tế quân ngụy Sài Gòn
tấn công và lấn chiếm vùng giải phóng, tháng 10 năm 1973, Bộ chỉ huy các lực
lượng vũ trang miền Nam Việt Nam buộc phải ra lệnh đánh trả. Gần một tháng sau
đó, trong chuyến Kissinger đi thăm Bắc Kinh, hai bên ra thông cáo thỏa thuận là
trong tình hình “đặc biệt nghiêm trọng hiện nay”, hai bên cần tiến hành liên hệ
thường xuyên ở các cấp có thẩm quyền để trao đổi ý kiến về những vấn đề cùng
quan tâm. Thực chất đó là sự phối hợp giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ nhằm ngăn cản
cuộc đấu tranh của các lực lượng vũ trang miền Nam Việt Nam chống Mỹ-ngụy. Theo
tướng Alexander Haig, báo Mỹ "Người hướng dẫn khoa học Cơ-đốc", ngày
20 tháng 6 năm 1979, thì lúc đó Bắc Kinh đã khuyên Mỹ “đừng thua ở Việt Nam,
đừng rút lui khỏi Đông Nam Á”.
Năm 1974, Mỹ đang thực hành sách lược
"phi Mỹ hóa - Việt Nam hóa chiến tranh", "thay màu da xác
chết", dùng người Việt đánh người Việt. Họ vẫn làm chủ, có toàn quyền ở
miền Nam Việt Nam và quần đảo Hoàng Sa. Lúc đó tình hình chiến trường càng lúc
càng bi đát, ảm đạm, bi quan, họ đã nhắm không giữ nổi miền Nam Việt Nam, sớm
muộn gì cũng thua, nên đã thỏa thuận nhượng lại Hoàng Sa cho Trung Quốc để đổi
lấy những lợi ích kinh tế, chính trị và củng cố, thắt chặt quan hệ ngoại giao
giữa hai nước, hình thành thái cực Mỹ - Trung chống Việt - Xô. Đó là thời kỳ
Trung - Xô xung đột và Trung Quốc "liên Mỹ đả Việt". Đó là lý do vì
sao khi hải quân Trung Quốc được Mỹ bật đèn xanh bất ngờ tấn công vào Hoàng Sa,
hải quân ngụy sau khi buộc phải tự vệ thì có lệnh phải triệt thoái, và họ đã
chạy khỏi và bỏ lại toàn bộ quần đảo Hoàng Sa, các lực lượng hải quân hùng hậu
quanh đó bị Nguyễn Văn Thiệu hạ lệnh án binh bất động, những tàu chiến hiện đại
đang trên đường ra Hoàng Sa thì bị gọi quay về. Hạm đội 7 của Mỹ đóng gần đó
thì mắt nhắm mắt mở, lờ đi, án binh bất động.
Có câu "đánh tớ phải nể mặt
chủ", dĩ nhiên Trung Quốc đã an bài trước với Hoa Kỳ sau hậu trường, được
Mỹ gật đầu, thì mới có thể "tỉnh bơ", ngang ngược, công khai đánh
thẳng vào quần đảo Hoàng Sa ngay trước mặt Hạm Đội 7 của Hoa Kỳ như vậy. Lúc đó
TQ không muốn và không dại gì làm mất lòng Mỹ trong khi quan hệ hai nước đang
phục hồi, xích lại gần nhau và phát triển tốt đẹp. Mỹ vừa hợp tác, vừa lợi dụng
Trung Quốc để chia rẽ khối XHCN châu Á, gây hại cho phong trào giải phóng dân
tộc ở Việt Nam, rình rập đâm lén sau lưng VN.
Trung Quốc nói là để "tự
vệ", nhưng thực chất đó là một hành động xâm lược, một hành vi "đục
nước béo cò", "thừa nước đục thả câu", một sự xâm chiếm lãnh thổ
Việt Nam từ tay Mỹ để khống chế Việt Nam từ mặt biển và từng bước thực hiện mưu
đồ độc chiếm Biển Đông, biến Biển Đông thành "ao nhà". Hành động xâm
lược của họ có tính toán từ trước và được sự đồng tình của Mỹ. Vì vậy, khi đó
người Mỹ ở Sài Gòn đã trao đổi với Nguyễn Văn Thiệu và hạm đội Mỹ ở Thái Bình
Dương đã được lệnh nhắm mắt làm ngơ cho Trung Quốc tấn công quần đảo Hoàng Sa,
đồng thời các lực lượng hải quân ngụy đang trên đường cứu Hoàng Sa bị buộc phải
quay trở về đất liền. Thực tế Mỹ-ngụy đã bức tử quân mình ở Hoàng Sa.
Trong cuộc hội đàm với Việt Nam năm 1975,
phó Thủ tướng Đặng Tiểu Bình đã thừa nhận rằng hai bên đều tuyên bố các quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của mình, cho nên cần gặp gỡ để bàn bạc giải
quyết. Điều đó càng chứng tỏ hành động của phía Trung Quốc xâm chiếm quần đảo
Hoàng Sa là ngang ngược, bất chấp đạo lý và luật pháp quốc tế, gây ra một tình
trạng việc đã rồi. (Về vấn đề biên giới, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và
các cộc đàm phán về vịnh Bắc Bộ và biên giới, xin tham khảo Bị vong lục của Bộ
Ngoại Giao nước CHXHCN Việt Nam ngày 7 tháng 8 năm 1979 và ngày 27 tháng 9 năm
1979, và Sách trắng của Bộ Ngoại Giao CHXHCN Việt Nam công bố ngày 28 tháng 9
năm 1979)
Tại Campuchia, Pol Pot, đồng minh
trung thành của Bắc Kinh, bằng những thủ đoạn lọc lừa, dối trá, lưu manh, tàn
ác, kể cả việc thủ tiêu những cán bộ cách mạng chân chính, ra sức củng cố địa
vị chính trị, nắm toàn bộ quyền lực để biến Đảng cộng sản Campuchia thành một
đảng lệ thuộc Bắc Kinh, biến chế độ của ông ta thành một chế độ diệt chủng. Như
vậy, Trung Quốc đã tiến thêm một bước trong âm mưu nắm trọn Campuchia dưới chế
độ của Pol Pot, đàn em trung thành của Trung Quốc, chuẩn bị bàn đạp tấn công
Việt Nam từ phía Tây Nam sau khi miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng.
Mặc dù Trung Quốc - Hoa Kỳ dùng đủ mọi
cách để cản trở quân dân Việt Nam giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam, quân
dân Việt Nam vẫn kiên quyết đấu tranh trên ba mặt trận quân sự, chính trị và
ngoại giao chống Mỹ-ngụy tiến lên giành toàn thắng. Với cuộc tổng tiến công và
nổi dậy mùa xuân năm 1975, Việt Nam đã giành toàn thắng trước Hoa Kỳ, giải
phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất sơn hà.
Trung Quốc, đầu tiên xuất phát từ lợi
ích dân tộc của chính họ, trong thời gian đầu quả thật có giúp Việt Nam khi
Việt Nam bắt đầu chiến đấu chống Mỹ, nhưng cũng lại xuất phát từ lợi ích dân
tộc, họ không muốn Việt Nam thắng Mỹ và trở nên mạnh, mà chỉ muốn Việt Nam yếu,
phải nhờ vả và dựa vào Trung Quốc. Vì vậy, từ chỗ chống nhau, họ dần đi tới
thân thiện với đế quốc Mỹ, và từng bước toa rập với Mỹ muốn Việt Nam bị chia
cắt lâu dài, nhưng nhân dân Việt Nam đã đánh cho “Mỹ cút, ngụy nhào”, giải
phóng miền Nam và thống nhất đất nước.
Trung Quốc đi đêm với Mỹ, thông đồng
với Mỹ mưu hại Việt Nam, chơi trò hai mặt, một mặt duy trì giúp đỡ cầm chừng,
đủ để giữ bộ mặt "chính nghĩa" và uy tín trên trường quốc tế và trong
khối XHCN, tranh giành "thương hiệu" với Liên Xô, tranh làm
"hiệp sĩ" với LX, một mặt câu kết, toa rập với Hoa Kỳ chống VN, chống
LX. Nhưng "cuộc tình tội lỗi" Mỹ - Trung đó không ngăn được nhân dân
Việt Nam giành thắng lợi hoàn toàn. Trung Quốc muốn chia rẽ Việt Nam với Liên
Xô và các anh em xã hội chủ nghĩa khác, nhưng Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt
Nam đã giữ vững đường lối độc lập, tự do của mình, tăng cường đoàn kết với Liên
Xô và các đồng minh xã hội chủ nghĩa khác.
Ngoài ra, Trung Quốc cũng tìm cách đi
cửa sau để tiếp xúc với những tay sai của Hoa Kỳ, thậm chí cho người đến gặp và
thuyết phục tướng Dương Văn Minh, “tổng thống” vào ngày cuối của chế độ Sài Gòn
để tiếp tục chống lại cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân của quân dân miền
Nam Việt Nam. Văn kiện “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc 30 năm qua”
của Bộ ngoại giao Việt Nam do NXB Sự Thật xuất bản vào tháng 10 năm 1979 đầu
tiên công bố chuyện mờ ám này. Sau này, tướng Dương Văn Minh, tướng Nguyễn Hữu
Hạnh, sĩ quan ngụy Trần Viết Đại Hưng (sở hữu một số bức thơ Dương Văn Minh gởi
cho bạn thân là tướng Nguyễn Chánh Thi), và nhiều cựu tướng tá, sĩ quan QLVNCH
cũng thừa nhận chuyện này.
Theo tướng ngụy Lý Tòng Bá và Dư Quốc
Đống kể lại trên đài radio “Chân trời mới” và một số đài phát thanh Việt ngữ ở
Houston, Texas, Hoa Kỳ năm 2004. Trong ngày 30 tháng 4 năm 1975, một nhân viên
ngoại giao Trung Quốc đã gặp riêng Dương Văn Minh và khuyến khích hãy cố thủ,
án ngữ Vùng 4 Chiến thuật, hứa hẹn sẽ đem quân đánh vào biên giới miền Bắc Việt
Nam để giải vây cho ngụy Sài Gòn. Nhưng tình thế bi đát, Mỹ bất lực, buông tay,
bỏ rơi, tình hình của ngụy Sài Gòn đã tuyệt vọng không còn cách nào cứu vãn. Dù
quân Trung Quốc có thật sự làm vậy thì cũng không thể nào ngăn cản được khí thế
tiến công của quân dân miền Nam từ nông thôn tràn về giải phóng Sài Gòn, hang ổ
cuối cùng của ngụy quyền Sài Gòn.
Rất nhiều tư liệu, hồi ký, hồi ức của
các chóp bu ngụy, sĩ quan ngụy đã thừa nhận việc này. Ví dụ ông Dương Văn Minh
sau khi định cư ở Pháp, đã kể lại cho các sinh viên Pháp gốc Việt trong một
buổi nói chuyện thân mật ở Paris rằng trong ngày 30 tháng 4, khi ngụy quyền Sài
Gòn trong cơn hấp hối, sắp sụp đổ, thì người của Trung Quốc đã tìm cách liên
lạc với chính phủ Dương Văn Minh thông qua sự trung gian của người Pháp, đề
nghị viện trợ, giúp đỡ khẩn cấp ngụy Sài Gòn chống lại quân và dân miền Nam.
Theo cựu chuẩn tướng quân đội Sài Gòn
Nguyễn Hữu Hạnh (hiện đang là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam), thì
sáng ngày 30-4-1975, biệt phái viên Francois Vunuxem (tướng tình báo Pháp) đã
đến “Phủ thủ tướng” gặp “tổng thống” Dương Văn Minh, đề nghị kêu gọi Trung Quốc
can thiệp để cứu ngụy quyền Sài Gòn đang thoi thóp. Tướng Minh vốn đã được Ban
Binh vận Trung ương cục miền Nam thông qua em trai Dương Thanh Nhựt (bí danh
Mười Ty, người của cách mạng) và gia đình đã thuyết phục từ trước, nên ông đã
khước từ và nói: “Tôi cảm ơn thiện chí của ông, nhưng trong đời tôi, tôi đã
từng làm tay sai cho Pháp, rồi tay sai cho Mỹ, đã quá đủ rồi. Tôi không thể
tiếp tục làm tay sai cho Trung Cộng.” Cựu dân biểu Sài Gòn Lý Quý Chung, Bộ
trưởng Thông tin trong ngụy quyền Dương Văn Minh, trong hồi ức “Hồi ký không
tên” xuất bản ở Việt Nam cũng đề cập tới chuyện này.
Ông Nguyễn Hữu Thái, một chiến sĩ cách
mạng, một trong những gương mặt tiêu biểu của phong trào sinh viên Sài Gòn
chống Mỹ trước 1975 cũng xác nhận thông tin này. Trong bài hồi ức “Dương Văn
Minh và tôi” trên Viet-Studies năm 2008, ông ta kể lại: Viên tướng Pháp
Francois Vanuxem đội lốt ký giả hối hả đến gặp tướng Minh và các cộng sự, và
nói với họ: “Hãy rút về Cần Thơ, cố thủ Vùng 4 Chiến thuật, chỉ vài ngày nữa
thôi thì Trung Quốc sẽ có giải pháp trung lập hóa miền Nam”. Tướng Minh từ
khước đề nghị của đặc sứ Pháp và sau đó than với cộng sự một câu khác nhưng
cùng một ý: “Hết Tây đến Mỹ, chẳng lẽ bây giờ còn đi làm tay sai cho Tàu nữa
sao!”
Đó là lý do mà trong những ngày miền
Nam sôi sục khí thế, thì ít ai để ý lúc đó Trung Quốc đã tập kết trọng binh một
cách bất thường ở biên giới phía Nam, đại quân áp sát biên thùy, tạo ra áp lực
quân sự làm nóng biên giới, trong khi lực lượng võ trang miền Nam Việt Nam đang
tiến quân như “mưa lũ tràn về” giải phóng thành đô, thì lực lượng biên phòng
miền Bắc Việt Nam phải đặt trong tình trạng báo động với một tâm trạng hoang
mang không hiểu ông hàng xóm định làm gì.
Như vậy đã rõ, Trung Quốc không muốn
một Việt Nam độc lập - thống nhất – hòa bình nên đã đi đêm, liên minh với Mỹ,
thực hiện sách lược “liên Mỹ đả Việt”, sau khi Mỹ “bỏ con giữa chợ” thì Trung
Quốc muốn đóng thay vai trò của Mỹ. Nhưng họ không ngờ con bài Dương Văn Minh
của Mặt trận, vốn đã được Ban Binh vận Trung ương cục miền Nam, và đại tá
QĐNDVN Dương Thanh Nhựt (em ruột của tướng Minh) cảm hóa từ lâu, “thân tại Tào
– tâm tại Hán”. Mặt trận ngay từ đầu đã khuyến khích, động viên tướng Minh ở
lại với Mỹ, vì một sĩ quan cao cấp, có chức tước cao ở trong hàng ngũ giặc thì
có lợi cho kháng chiến hơn, phát huy giá trị hơn.
Những ngày cuối tháng 4 năm 1975, “con
bài Dương Văn Minh” đã phát huy tác dụng, giành quyền từ tay ông lão cực đoan
Trần Văn Hương, không nghe lời Mỹ, bác bỏ mọi uy hiếp, dụ dỗ của Trung Quốc,
đầu hàng vô điều kiện và kêu gọi binh lính bỏ vũ khí đầu hàng làm Mỹ và Trung
Quốc đều bị bất ngờ, Mỹ không phản ứng kịp và Trung Quốc không kịp “đục nước
béo cò”. Đồng thời đặt Mỹ-ngụy và toàn quân vào một “sự đã rồi”, đánh gục tinh
thần kháng cự cuối cùng của Mỹ-ngụy, làm cho họ hoàn toàn gục ngã, tuyệt vọng.
Khiến cho ai còn không thức thời, không hiểu biết cũng đều phải buông súng đầu
hàng.
Sự kiện trên cũng cho thấy, Trung Quốc
không chỉ muốn “liên Mỹ đả Việt”, mà còn muốn thay thế vai trò của Mỹ đối với
ngụy quyền. Vì khách quan mà nói, Mỹ đã “bỏ con giữa chợ”, hoàn toàn bỏ rơi
ngụy Sài Gòn từ sáng ngày 30/4/1975. 4:58 sáng thì Martin đã rời Việt Nam. 7
giờ sáng những quân nhân cuối cùng của Hoa Kỳ cũng rời khỏi Việt Nam. 7:53 sáng
chiếc trực thăng quân sự cuối cùng của Mỹ chở 10 người lính Thủy quân Lục chiến
Mỹ cuối cùng tháo chạy khỏi Việt Nam. Không đầy 4 giờ sau, ngụy quyền sụp đổ, ngụy
quân tan rã.
Như vậy, kết quả cuộc chiến đã được
định đoạt vào lúc 7:53 sáng ngày 30/4 khi người lính Mỹ cuối cùng rời khỏi lãnh
thổ Việt Nam, chứ không phải khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vào 11:30
trưa hôm đó, tướng Minh là quân bài của Mặt trận từ lâu, và tác dụng của việc
tuyên bố đầu hàng và kêu gọi buông súng chỉ là để cho không còn đổ máu vô ích,
đánh gục những sự ngoan cố cuối cùng của một bộ phận quá khích.
Những trò bỉ ổi của Trung Quốc như đã
tường trình ở trên, chính là nằm trong khoảng thời gian 4 giờ này, sau khi Mỹ
đã bỏ đi, TQ không còn người chủ để nói chuyện ở Sài Gòn nên đành đến gặp và
thuyết phục “tổng thống” Dương Văn Minh. Nhưng họ không ngờ tướng Minh là lá
bài của Mặt trận, vì thế đã bác bỏ đề nghị của Trung Quốc và tuyên bố đầu hàng
vô điều kiện.
Trung Quốc lá mặt, lá trái không những
với Việt Nam, mà còn với cả đồng minh mới Hoa Kỳ, “tình nhân” mà họ đi đêm từ
năm 1972. Âm mưu qua mặt Mỹ, nhặt lại công cụ mà Mỹ đã sử dụng và vừa mới vứt
bỏ cách đó vài giờ. Mỹ - Trung, một bên vỏ quýt dày thì một bên móng tay nhọn,
bên tám lạng, người nửa cân, hình thành một mối quan hệ bạn thù khó phân.
Không những các thỏa thuận giữa Trung
Quốc với Mỹ, những mưu đồ chiến lược của họ đã bị thất bại, mà một nước Việt
Nam xã hội chủ nghĩa độc lập, thống nhất, phát triển, hội nhập, và có uy tín và
vị thế chính trị ngày càng cao trên trường quốc tế, sẽ mãi là vật cản, chướng
ngại không thể nào san bằng cho mưu đồ bành trướng bá quyền đại dân tộc của
Trung Quốc ở Đông Dương và Đông Nam Á. Thắng lợi lịch sử của Việt Nam ngày
30/4/1975 không chỉ là thất bại lớn của đế quốc Mỹ xâm lược, mà cũng là thất
bại lớn của bọn bành trướng Bắc Kinh.
Henry Kissinger khi nói về Chiến tranh
biên giới Việt – Trung cũng đã thừa nhận: “Trung Quốc giúp đỡ Hà Nội để làm cùn
bớt lưỡi dao của Mỹ thọc vào châu Á.”, “Hà Nội chỉ chiến đấu với một lẽ duy
nhất, đó là lòng yêu nước của họ. Và một nước Việt Nam thống nhất dưới sự lãnh
đạo của những người cộng sản Việt Nam, chiến thắng vào năm 1975, chính là mối
đe dọa chiến lược to lớn đối với Trung Quốc còn hơn đối với Mỹ”.
Vào những năm cuối đời của Mao Trạch
Đông và sau cái chết của ông, cuộc đại khủng hoảng tại Trung Quốc tiếp tục diễn
ra gay gắt, với những cuộc thanh trừng tàn bạo lẫn nhau nhân danh này, nhân
danh kia để tranh giành quyền bính. Trong 20 năm liền, nền kinh tế và tình hình
chính trị, xã hội của Trung Quốc đã bị suy thoái, băng hoại và hỗn loạn vì
những cái gọi là “Đại nhảy vọt”, “Đại cách mạng văn hóa”. Mặc khác, sự yếu kém
về quân sự và kinh tế của Trung Quốc trong thời kỳ này không cho phép bọn bá
quyền Bắc Kinh thực hiện ý đồ như họ mong muốn.
Cho nên, về đối nội, họ lấy chủ nghĩa
Đại Hán, lấy tư tưởng đại dân tộc để tập hợp các phe phái và động viên dân
Trung Quốc nhằm thực hiện Cải cách. Về đối ngoại, họ dấn sâu vào con đường thực
dụng, thực lợi, cơ hội, lợi dụng lúc chủ nghĩa đế quốc bị khủng hoảng về kinh
tế và chính trị nghiêm trọng, và lúc Mỹ bị thua đau, phải điều chỉnh lại chiến
lược toàn cầu, họ câu kết với chủ nghĩa đế quốc, chống Liên Xô, chống phong
trào cách mạng thế giới, tranh thủ nhiều vốn và kỹ thuật của phương Tây cho kế
hoạch Cải cách của mình. Họ hằn học nhìn thắng lợi của Việt Nam trước Hoa Kỳ,
cho nên từ khi nhân dân Việt Nam giành được toàn thắng, họ ngày càng công khai
và điên cuồng thực hành một chính sách thù địch toàn diện và chống Việt Nam một
cách có hệ thống.
Thông qua Khmer Đỏ
tiến hành cuộc chiến tranh xâm lấn ở phía Tây Nam Việt Nam
Ngay từ giữa thập niên 1960, Trung
Quốc đã mưu tính nắm trọn vấn đề Campuchia, trước mắt nhằm phá hoại Mặt trận
đoàn kết các nước Đông Dương, làm yếu cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam,
có thể đàm phán với Mỹ và nắm bắt Campuchia phụ thuộc lâu dài và trở thành một
bàn đạp của Trung Quốc để bành trướng xuống Đông Dương và Đông Nam châu Á.
Sau ngày 17 tháng 4 năm 1975, Trung
Quốc dùng bọn đệ tử chiếm quyền lãnh đạo đảng Cộng sản Campuchia, gạt quốc
vương Xihanúc và những người thân cận của ông ta, xây dựng nên một chế độ phát
xít diệt chủng và thông qua chế độ đó kiểm soát, thao túng nước Campuchia, biến
Campuchia thành một chư hầu kiểu mới để tiến đánh Việt Nam từ phía Tây Nam.
Trung Quốc đã viện trợ tiền bạc, vũ
khí và dụng cụ chiến tranh các loại và đưa hàng vạn cố vấn vào Campuchia để
thành lập và huấn luyện hàng chục sư đoàn mới gồm đủ bộ binh, thiết giáp, pháo
binh, xây dựng thêm hoặc mở rộng nhiều căn cứ hải quân, không quân, hệ thống
kho hậu cần.
Dưới sự hậu thuẫn, ủng hộ, chống lưng
của Bắc Kinh, Khmer Đỏ lúc đó tiến hành một chiến dịch tuyên truyền rộng khắp
vu khống Việt Nam “âm mưu xâm chiếm, cướp nước Campuchia”, “tiểu bá Việt Nam
muốn độc chiếm Đông Dương, thôn tính Lào và Campuchia”, ráo riết hô hào chiến
tranh chống Việt Nam. Họ đã phá hoại cuộc đàm phám giữa hai nước nhằm giải
quyết vấn đề biên giới để có cớ duy trì một tình hình ngày càng căng thẳng ở
vùng biên giới Việt Nam – Campuchia.
Ngay từ năm 1975, họ đã đưa quân lấn
chiếm, bắn giết, đốt phá nhiều điểm trên lãnh thổ Việt Nam và từ đó ngày càng
gây thêm nhiều vụ xung đột ở biên giới, đột kích nhiều đồn biên phòng, làng xóm
Việt Nam, làm cho tình hình biên giới không ổn định, ngăn cản nhân dân Việt Nam
khôi phục và xây dựng kinh tế. Từ những cuộc khiêu khích vũ trang, họ tiến đến
gây ra một cuộc chiến tranh biên giới chống nước Việt Nam từ tháng 4 năm 1977
suốt dọc hơn 1.000 km với những chiến dịch tấn công đại quy mô, huy động hàng
vạn bộ binh có xe tăng, trọng pháo yểm trợ, có khi vào sâu lãnh thổ Việt Nam
hơn 30 km, giết hại dân thường, tàn phá nhà cửa, đốt rụi làng mạc, gây ra nhiều
cuộc thảm sát, trong đó có cuộc Thảm sát Ba Chúc dã man.
Chống bằng kinh tế và
văn hóa
Ngoài việc chống Việt Nam bằng quân
sự, chính trị, tài trợ cho bọn đệ tử, đàn em gây chiến ở biên giới Tây Nam,
Trung Quốc còn thỏa thuận với Mỹ - Đài Loan, Hồng Kông, tuồn các văn hóa phẩm
gây nghiện của Trung Hoa vào Việt Nam, như các tiểu thuyết kiếm hiệp, các văn
hóa phẩm này dần trở thành mất kiểm soát, cộng với các văn hóa phẩm Trung Hoa
đã tồn tại sẵn dưới thời Mỹ ở miền Nam, đã “đầu độc” nhiều người, khiến họ chỉ
biết lao đầu vào những cái gọi là "chưởng", "khinh công",
"thần công" linh tinh, mà lười lao động, lười học hành, chính vì vậy
thời đó VN phải cấm lưu hành truyện kiếm hiệp và dẹp bỏ, phá hủy những kho văn
hóa phẩm này. Chính phủ CHND Trung Hoa cũng cộng tác với CIA cài cắm nhiều điệp
viên Hoa Nam Tình Báo Cục trong lãnh thổ Việt Nam.
Trung Quốc cũng khai thác và lợi dụng
vấn đề kinh tế miền Nam phần lớn do người Tàu Chợ Lớn thao túng, đầu cơ tích
trữ, giấu gạo ém muối, tạo ra khan hiếm giả sau đó trục lợi bán ra với giá “cắt
cổ” trong lúc đất nước, xã hội nghèo nàn phải xây dựng lại từ đầu.
Trước năm 1975, kinh tế lớn thì do tư
bản Mỹ và phương Tây nắm, kinh tế vừa và nhỏ, tiểu thương, thì do người Trung
Hoa, người Minh Hương, người gốc Hoa thao túng. Tình hình rối loạn đến mức khi
quyền lợi tư bản Mỹ bị ảnh hưởng, khi xã hội và kinh tế phát sinh vấn đề bất
ổn, thì Mỹ phải ra lệnh cho "thủ tướng" Nguyễn Cao Kỳ đi xử bắn gian
thương Tạ Vinh ở Chợ Lớn vào năm 1966.
Nhiều cựu quân nhân ngụy kể lại, thời
đó vào Chợ Lớn chẳng khác nào lạc vào một xứ sở khác, lạc vào Trung Quốc. Trước
và sau giải phóng đều có một bộ phận không nhỏ người Hoa, nhất là trong giới
thương nghiệp lúc ấy chơi rất "bẩn", quen với mô hình kinh tế tư bản
rồi nên tưởng rằng cũng sẽ tha hồ được tự do kinh doanh kiểu gian manh vô lương
tâm. Và Trung Quốc tận dụng mọi yếu tố, nhân tố này để tăng cường quấy phá xã
hội Việt Nam. Một phần họ ủng hộ những thành phần trên, lúc thì công khai, lúc
thì ngấm ngầm, để phá hoại kinh tế và đời sống nhân dân VN.
Khi Việt Nam phải xử phạt hoặc trục
xuất một bộ phận người Trung Quốc (không phải công dân VN) vi phạm luật pháp,
muốn loại bỏ bớt những lũng đoạn, thao túng, lộng hành kinh tế của người Hoa ở
VN, thì Trung Quốc la lối lên rằng "Việt Nam phân biệt chủng tộc, kỳ thị
và trục xuất người Hoa" và dùng nó như một chiêu bài giành phần
"chính nghĩa", “lẽ phải” về mình, bôi đen Việt Nam, biến VN thành
"kẻ ác". Mặt khác, Trung Quốc ngầm kích động, thúc đẩy người Hoa về
nước, tạo ra những phong trào hồi hương, bằng những tin đồn quái ác, hoặc bằng
những mật lệnh cho bọn gián điệp Bắc Kinh, rồi lu loa lên rằng Việt Nam phân
biệt chủng tộc, kỳ thị Việt - Hoa, trục xuất người Hoa. Trung Quốc đã "vừa
ăn cướp vừa la làng".
Người Hoa ở Việt Nam
Việt Nam có khoảng 1 triệu 20 vạn
người Hoa sinh sống; gần một triệu người ở miền Nam (chủ yếu xuất xứ từ những
đoàn tàu tỵ nạn chính trị của những người Hán không chấp nhận sự cai trị của
triều Mãn Thanh, gọi là người Minh Hương, trung thành với nhà Minh cũ), và trên
20 vạn người ở miền Bắc. Năm 1955, Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Cộng sản
Trung Quốc đã thỏa thuận công khai, minh bạch, rõ ràng là người Hoa ở Việt Nam
là do Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, và sẽ dần dần chuyển thành
công dân Việt Nam, và phải mang quốc tịch Việt Nam. Trong 20 năm, người Hoa ở
miền Bắc và trong những vùng đã giải phóng ở miền Nam đều được hưởng quyền lợi
và nghĩa vụ như công dân Việt Nam, như những người Việt Nam bình thường, hoàn
toàn không có sự kỳ thị chủng tộc trong chính sách.
Sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam,
Đảng và Chính phủ Việt Nam tiếp tục nghiêm chỉnh thực hiện sự thỏa thuận năm
1955 giữa hai Đảng về người Hoa ở miền Bắc, đồng thời tôn trọng thực tế lịch sử
về người Việt gốc Hoa trong những vùng tạm chiếm ở miền Nam, coi người gốc Hoa
ở bất kỳ nơi nào trên lãnh thổ VN là một bộ phận trong cộng đồng các dân tộc
Việt Nam. Một bộ phận nhỏ mang căn cước Đài Loan (lúc đó ta gọi là "Tàu
Đài Bắc" để phân biệt với "Tàu Bắc Kinh"), Hồng Kông hoặc quốc
tịch nước khác và số Hoa kiều tiến bộ bị Khmer Đỏ xua đuổi và tỵ nạn ở Việt Nam
thì được coi là ngoại kiều.
Ngược lại, nhà cầm quyền phản động
Trung Quốc xuyên tạc sự thỏa thuận năm 1955 giữa hai Đảng, phủ nhận thực tế
lịch sử khách quan về những người Việt gốc Hoa ở Việt Nam, coi tất cả kiều dân
ở hai miền là kiều dân Trung Quốc và đòi quyền lãnh đạo những người ấy. Trên
thực tế, họ âm mưu biến những người này thành các "đội quân thứ 5",
họ lập ra các tổ chức, đảng phái phản động và mạng lưới gián điệp người Hoa
trên đất Việt Nam. Đơn cử một số tổ chức, băng đảng phản động như: “Hoa kiều
hòa bình liên hiệp hội”, “Hoa kiều tiến bộ”, “Hoa kiều cứu vong hội”, “Đoàn
thanh niên chủ nghĩa Mác-Lênin”, “Hội học sinh Hoa kiều yêu nước”, “Mặt trận
thống nhất Hoa kiều” v.v. do Bắc Kinh thành lập và chỉ huy, đã hoạt động chống
lại các chính sách của Việt Nam, chống lệnh đăng ký nghĩa vụ quân sự, chống
việc đi khai khẩn đất hoang, xây dựng vùng kinh tế mới, xây dựng lại Việt Nam,
kích động tâm lý huyết thống trong người Việt gốc Hoa, khơi lên phong trào đòi
trở lại quốc tịch Trung Quốc. Người Tàu Bắc Kinh và người Tàu Đài Bắc treo hình
Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch khắp nơi, xem Việt Nam như Trung Quốc, Đài
Loan.
Trung Quốc in tiền giả, đầu cơ tích
trữ, nâng giá hàng nhằm phá kế hoạch ổn định và phát triển kinh tế của các cơ
quan Nhà nước ở Nam Bộ, Với những thủ đoạn đó, nhà cầm quyền bành trướng Bắc
Kinh đã gây thêm khó khăn cho nhân dân miền Nam Việt Nam vốn đã gặp biết bao
khó khăn do 30 năm chiến tranh của thực dân, đế quốc để lại, khiến cho nhiều
người về sau bỏ nước tha phương cầu thực, tìm một đời sống kinh tế khá hơn. Tóm
lại, Bắc Kinh đã dùng người Hoa làm công cụ gây rối loạn về chính trị, kinh tế,
xã hội ở Việt Nam như họ đã làm ở một số nước Nam Á.
Cái gọi là vấn đề “nạn kiều” chủ yếu
là một sự cưỡng bức người Hoa ở Việt Nam ồ ạt di cư sang Trung Quốc của giới
cầm quyền Bắc Kinh, nhằm gây xáo trộn về chính trị, xã hội, kinh tế ở Việt Nam,
đồng thời kích động dư luận Trung Quốc, chuẩn bị sẵn sàng “đạo quân thứ 5” cho
việc tiến hành xâm lược Việt Nam trong bước sau.
Vốn là những người làm ăn sinh sống
lâu đời ở Việt Nam, thông thạo địa hình, phong tục, tập quán, có nhiều cơ sở
quen thuộc cũ, có nhiều khả năng nắm được nhiều tin tức, tình hình, những người
Hoa ở Việt Nam trở về Trung Quốc đã được bọn bành trướng Bắc Kinh chọn lựa để
đưa vào những “sư đoàn sơn cước” chuyên đánh rừng núi, thọc sâu vào hậu phương,
hoặc những đơn vị đi trước mở đường, hoặc những đơn vị thám báo, dẫn đường, phá
hoại cầu cống, cơ sở hạ tầng của Việt Nam. Nhiều người trong bọn họ đã bị bắt
giữ và trừng trị trong cuộc chiến tranh xâm lược năm 1979.
Hơn một tháng sau vấn đề "nạn
kiều", "nạn dân", Trung Quốc gọi về nước tất cả các chuyên gia
và cán bộ kỹ thuật đang công tác ở Việt Nam. Đi đôi với việc rút hết chuyên gia
về nước, giới cầm quyền Trung Quốc còn thông đồng với Hoa Kỳ vận động các nước,
các tổ chức quốc tế ngưng viện trợ cho công cuộc xây dựng lại Việt Nam, tăng
cường bao vây cấm vận, "bỏ đói", bức tử Việt Nam. Thế là Việt Nam vừa
bị Mỹ và các nước đồng minh, thân Mỹ cấm vận, vừa bị Trung Quốc và các đồng
minh, thân Tàu cấm vận. Trong thì bị 2 mặt giáp công (phía Nam và phía Bắc),
ngoài thì bị cấm vận 2 đầu (phương Bắc và phương Tây).
Ngoài việc cấm vận kinh tế và quân sự,
Trung Quốc còn tăng cường cản trở quan hệ bình thường giữa Việt Nam và các nước
ASEAN, kêu gọi các nước đó lập “mặt trận chung với Trung Quốc chống tiểu bá
Việt Nam”, tuyên truyền rằng Việt Nam và "bè lũ Lê Duẩn - Lê Đức Thọ"
muốn "bá chủ" Đông Dương, muốn thôn tính Đông Dương, muốn thành lập 1
Liên bang Đông Dương do Lê Duẩn làm chủ. Với cuộc vận động đó, họ hy vọng sẽ
thực hiện được chính sách bao vây kinh tế, cô lập chính trị, ngoại giao, tiến
công quân sự, như các đế quốc thực dân vẫn làm bấy lâu nay với một số nước. Đây
là một hành động xâm phạm độc lập, chủ quyền của Việt Nam, can thiệp vào công
việc của các nước khác và các tổ chức quốc tế.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét