"Đạo
quân thứ 5" của Trung Quốc
Theo "truyền thống" ăn không
nói có, đổi trắng thay đen, gắp lửa bỏ tay người, vừa ăn cướp vừa la làng, bóp
méo xuyên tạc v.v., Trung Quốc ráo riết tuyên truyền bêu xấu, kể tội Việt Nam
trong binh lính và dân chúng của họ, biện minh, lấp liếm bản chất phi nghĩa của
cuộc chiến, và rêu rao về "chính nghĩa" của họ trong cuộc chiến “thảo
phạt”, tấn công Việt Nam.
Ngay từ trước khi quân Trung Quốc vượt
biên giới đánh vào Việt Nam, Trung Quốc đã xuyên tạc tố cáo Việt Nam là khiêu
khích, là gây hấn khắp vùng biên giới. Theo bịa đặt của Trung Quốc, quân Việt
Nam đã tiến hành "1100 vụ" xâm nhập biên thùy. Trong khi sự thật là
lính biên phòng Trung Quốc khiêu khích hàng ngày, thường xuyên nổ súng về phía
Nam. Sự gây sự này của Trung Quốc làm cho tình hình biên cương luôn căng thẳng
và những vụ đấu súng tại biên giới giữa 2 bên cũng tăng lên, từ khoảng 100 vụ
năm 1974 lên tới hơn 900 vụ năm 1976. Việc Trung Quốc đi đêm với Kissinger,
dùng vũ lực chiếm Hoàng Sa năm 1974, cũng như việc Việt Nam đưa quân giải phóng
Trường Sa từ tay Mỹ cũng góp phần khiến cho Trung Quốc bức xúc, cay cú.
Trung Quốc nhồi sọ người dân và đánh
lừa dư luận thế giới rằng đây là cuộc chiến "phản công", “phản kích”,
“tự vệ”, chống Việt Nam là để "bảo vệ lãnh thổ quốc gia", rằng chiến
dịch quân sự này được tiến hành để "trừng phạt", “trừng trị” nhà cầm
quyền Việt Nam, cụ thể là "bè lũ Lê Duẩn", và rằng quân đội cần giành
được sự ủng hộ của nhân dân Việt Nam (?). Chiến dịch vận động, lôi kéo, dụ dỗ,
mua chuộc của Trung Quốc có kết quả với dân chúng và cán bộ Trung Quốc tại vùng
biên, khiến họ có thể huy động hàng chục vạn dân công tham gia các hoạt động
bảo đảm an ninh và tiếp tế cho quân đội.
Đối với dân thường ở Việt Nam, Trung
Quốc bỏ ra nhiều công sức tuyên truyền lôi kéo người dân vùng biên, đặc biệt là
với các dân tộc thiểu số sống vắt qua biên giới hai nước như Tày, Nùng (ở Trung
Quốc gọi là dân tộc Choang), Dao, Hmong và các nhóm người thiểu số gốc Hoa. Móc
nối, liên lạc, sắp đặt, an bài kế hoạch với bọn thám báo, bọn gián điệp nằm
vùng đã được TQ cài cắm sẵn, len lỏi vào trong dân.
Kết quả là trong ngày đầu của cuộc
chiến, có nơi quân Trung Quốc đã được dẫn vòng qua đồn biên phòng tiến sâu vào
đất Việt Nam mà không bị phát hiện. Phục vụ công tác mua chuộc, dụ dỗ, lừa gạt
dân chúng tại các khu vực chiến sự, Trung Quốc còn thành lập các đơn vị đặc
biệt mà nhiệm vụ chủ yếu là tổ chức cũng như kiểm tra hoạt động của các đội
"dân vận" trong tất cả các đơn vị quân. Theo đó, quân Trung Quốc tiến
sang Việt Nam phải kỷ luật, phải giảm tối thiểu những hành động gây xáo trộn,
phiền hà đến dân chúng, tôn trọng phong tục tập quán, tài sản, cung cấp gạo,
muối, dầu thắp, thuốc chữa bệnh... cho dân cư bản địa.
Chính sách mị dân thâm độc này được
một số đơn vị Trung Quốc ở vùng Lào Cai thực hiện. Theo sử gia Edward C.
O’Dowd, trong sách "Chinese Military Strategy in the Third Indochina
War", ông trích lại tài liệu của Trung Quốc, cho biết đơn vị 56041 (một trung
đoàn bộ binh của Sư đoàn 149, Quân đoàn 13, Quân khu Thành Đô) tại Lào Cai và
đơn vị 33762 (một trung đoàn thuộc quân khu Vũ Hán) đã thực hiện rất thành công
chính sách mị dân này, thành công dối gạt, đánh lừa được một bộ phận cư dân,
đặc biệt các dân tộc ít người.
Tuy nhiên, sau khi thua trận, Trung
Quốc không còn nhu cầu mị dân nữa, thì họ không còn dùng "đạo quân thứ
5" để lung lạc nhân tâm, trấn an dân chúng nữa mà họ cay cú, cáu tiết,
chuyển sang phá hoại toàn bộ, trên đường về nước họ đã thực hiện nhiều hành
động giết dân làng, đốt phá, cướp đoạt gia súc, vô kỷ luật, không khác gì một
đám sơn tặc, mã tặc, quân phỉ, quân phiệt.
Ngoài việc cướp bóc vô kỷ luật thì
Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã phá hủy các cơ sở hạ tầng, các công
trình xây dựng một cách có hệ thống, với mục đích đánh vào nền kinh tế đang lao
đao, khủng hoảng của Việt Nam. Hầu hết các thị xã thị trấn mà Trung Quốc chiếm
được đều bị phá hủy một cách có hệ thống. Tại thị xã Cao Bằng, quân Trung Quốc
dùng thuốc nổ phá sập bất cứ công trình gì từ công sở đến bưu điện, từ bệnh
viện đến trường học, từ chợ đến cầu.
Tại Đồng Đăng, quân lính Trung Quốc
hiện rõ nguyên hình là một bọn phỉ quân, lưu manh, côn đồ, cướp cạn, khi họ lấy
đi tất cả những gì có thể mang theo, từ xe đạp cho đến thanh ray tàu hỏa, những
gì không mang được đều bị đập phá theo tư tưởng "ăn không được thì đạp đổ,
phá cho hôi". Tại thị xã Cam Đường trên bờ sông Hồng, cách biên giới
khoảng 10km, ngoài việc phá hủy thị xã, quân Trung Quốc còn cho đốt cả mỏ
apatit, cướp tài nguyên không được thì phá tài nguyên.
Giáo sư sử học O'Dowd tổng kết là
chính sách mị dân của quân đội Trung Quốc và "đạo quân thứ 5" của họ
đã không thành công đối với quân và dân Việt Nam. Ông lý giải rằng "người
Việt Nam rất yêu nước, thấm nhuần tư tưởng chính trị, giỏi chịu đựng, không dễ
bị lung lạc,..." Ngoài ra, những hành động tàn phá, giết chóc dân thường,
cũng như ngược đãi tù binh của quân Trung Quốc đã gây hại cho nỗ lực mị dân của
họ. Những hoạt động này một phần là do binh lính Trung Quốc sang Việt Nam bị
sốc vì sự khốc liệt, sức kháng cự của quân đội Việt Nam cũng như sự bất hợp
tác, xa lánh, chống đối của dân bản xứ, một phần nằm trong các phá hoại có kế
hoạch và tổ chức, ví dụ như tại thị xã Lạng Sơn. Hoạt động lôi kéo người thiểu
số tại biên giới của Trung Quốc cũng không đạt được kết quả mong đợi. Khi quân
Trung Quốc từ quân khu Vân Nam rút về nước, tất cả những điệp viên và quân du
kích người thiểu số, các nhóm "đạo quân thứ 5" mà họ xây dựng được
đều bị lực lượng an ninh Việt Nam bắt giữ và xử tử, trừ khử hoàn toàn.
Chiến tranh tâm lý của Trung Quốc với
các lực lượng phòng thủ của Việt Nam cũng thất bại thảm hại. Trong suốt cuộc
chiến, tất cả các đơn vị của Việt Nam đều đánh trả quyết liệt quân Trung Quốc
xâm lược. Quân Trung Quốc cuối cùng cũng hiểu rằng ngoài việc sử dụng sức mạnh
quân sự thuần túy, họ không có khả năng giành thắng lợi trong chiến tranh tuyên
truyền chính trị.
Phản ứng quốc tế
trong cuộc chiến
Ngay trong khi Trung Quốc bắt đầu xâm
lăng Việt Nam, Hoa Kỳ tuyên bố rằng ta đây "trung lập", kêu gọi chung
chung, phát biểu nước đôi, ba phải, áp dụng tiêu chuẩn kép, chơi trò hai mặt.
Họ thường xuyên kêu gào về "sự rút quân lập tức của Việt Nam khỏi
Campuchia và Trung Quốc khỏi Việt Nam", ngụ ý ám chỉ rằng "việc Trung
Quốc xâm lược Việt Nam là sự tiếp nối của việc Việt Nam xâm lược
Campuchia", họ đánh tráo khái niệm, đánh đồng bản chất 2 cuộc chiến tranh,
vàng thau lẫn lộn, xuyên tạc bóp méo.
Theo giáo sư sử học Nayan Chanda trong
sách "Brother Enemy, The War after the War", NXB Harcourt Brace
Jovanovich xuất bản năm 1986 và nhiều trí thức, chuyên gia, nhà nghiên cứu khác
thì Hoa Kỳ chính là quốc gia duy nhất trên thế giới gần như ủng hộ công khai
cuộc xâm lược Việt Nam của Trung Quốc; trái với lời lên án việc Việt Nam tiến
đánh Khmer Đỏ là "một mối đe dọa cho hòa bình và ổn định", tuyên bố
của Mỹ về cuộc xâm lăng của Trung Quốc có hàm ý bào chữa rằng "việc Trung
Quốc tấn công Việt Nam là kết quả của việc Việt Nam xâm lược Campuchia",
"Việt Nam ráng chịu", "Việt Nam gieo gió gặt bão". Ngoài
Hoa Kỳ thì đa số các quốc gia trên thế giới đều phản đối mạnh mẽ hành động thô
bạo của Trung Quốc, sự cô lập này đã ảnh hưởng khá lớn tới chính sách ngoại
giao bước đầu mở cửa của Bắc Kinh khi đó.

Đặng và Carter
Ngày 18 tháng 2 năm 1979, Liên Xô viện
dẫn hiệp định ký với Việt Nam, kêu gọi Trung Quốc "ngừng trước khi quá
muộn" và yêu cầu Trung Quốc rút quân lập tức và toàn bộ. Trong thời gian
xảy ra cuộc chiến, Liên Xô đã lên án cuộc tấn công của Trung Quốc là "hành
động man rợ bất chấp đạo lý của kẻ cướp", đòi Trung Quốc lập tức chấm dứt
cuộc chiến tranh xâm lược này, và cảnh báo Trung Quốc về lòng trung thành của
Liên Xô đối với hiệp ước quân sự Xô - Việt.
Ngoài những tuyên bố mạnh mẽ và đanh
thép, Liên Xô không có hành động trợ giúp quân sự nào đáng nói, mà chỉ hỗ trợ
vận chuyển bằng hàng không và triển khai hải quân ngoài bờ biển Việt Nam, họ
nhu nhược, e ngại, sợ “mất cầu”, sợ đổ vỡ quan hệ vốn đã căng thẳng với Trung
Quốc.
Liên Xô cũng cảnh báo Trung Quốc về
việc đặt các lực lượng vũ trang Liên Xô ở Siberia vào tình trạng báo động đồng
thời cung cấp cho Việt Nam một số thông tin quân sự thu được từ vệ tinh do
thám. Bản thân Việt Nam cũng từ chối sự tham gia của các phi công Liên Xô vào
các trận đánh.
Cuba cảnh báo Trung Quốc là nước này
sẽ hỗ trợ Việt Nam, kể cả việc đưa quân đến nếu cần. Chủ tịch Cuba Fidel Castro
đã nói câu nổi tiếng: "Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của
mình!" Sau khi biết tin Trung Quốc rút quân, nhật báo Pravda của Liên Xô
cũng đưa ra biện luận rằng: Liên Xô hiểu được dã tâm của Bắc Kinh vì vậy đã
không đáp lại những khiêu khích quân sự của Trung Quốc với mục đích duy nhất là
làm leo thang căng thẳng giữa Liên Xô và Hoa Kỳ.
Tại Liên Hiệp Quốc, tranh cãi kịch
liệt xảy ra xung quanh vấn đề an ninh Đông Nam Á. Hai sự kiện Việt Nam tiến vào
Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng Khmer Đỏ và Trung Quốc đánh vào Việt Nam cùng
được đưa ra bàn luận. Hội đồng Bảo An LHQ bị chia rẽ sâu sắc sau các cuộc họp
vào các ngày cuối tháng 2. Mỹ thì vẫn hùa theo Bắc Kinh nhai đi nhai lại một
điệp khúc: Yêu cầu Việt Nam ngưng ngay lập tức hành động xâm lược Campuchia và
rút quân toàn bộ và vô điều kiện ra khỏi Campuchia.
Ông Lê Duẩn khi trả lời phỏng vấn
trong họp báo quốc tế đã phát biểu đanh thép, hùng hồn: "Tình hình ở
Campuchia là không thể đảo ngược!" Đáp trả lại đòi hỏi vô lý của Hoa Kỳ,
Bộ ngoại giao Việt Nam cũng tuyên bố thẳng: Nếu muốn Việt Nam rút quân khỏi
Campuchia thì tất cả các lực lượng quân sự nước ngoài trong khu vực đều phải
rút quân về nước, trong đó có quân đội Trung Quốc, Hạm Đội 7 và các căn cứ quân
sự của Mỹ ở Đông Nam Á, không làm được thì đừng áp đặt Việt Nam phải đơn phương
rút quân một mình. Nếu rút thì cùng nhau rút hết.
Liên Xô thì đứng về phía đồng minh
Việt Nam, tuyên bố không ủng hộ bất cứ nghị quyết nào mà không lên án Trung
Quốc, và kêu gọi Trung Quốc rút quân. Ngày 23 tháng 2 năm 1979, Liên Xô cùng
Tiệp Khắc đưa dự thảo nghị quyết trong đó lên án Trung Quốc xâm lược, đòi Trung
Quốc rút quân và bồi thường chiến tranh, và vận động cấm vận vũ khí đối với
Trung Quốc. Còn Trung Quốc thì chỉ trích Liên Xô "khuyến khích Việt Nam
tấn công Trung Quốc và xâm lược Campuchia". Ngày 24 tháng 2, Trung Quốc
đưa dự thảo nghị quyết đòi Việt Nam "lập tức rút quân hoàn toàn khỏi
Campuchia". Cuối cùng, Liên Hiệp Quốc không đi đến được một nghị quyết
nào.
Trong lúc cuộc chiến còn đang giằng
co, thì Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ bất chợt đem một số chiến hạm chở những
Đội đặc nhiệm tiến vào Biển Đông để phô trương thanh thế và muốn gián tiếp tiếp
ứng cho Trung Quốc bằng cách "xù lông" uy hiếp, gây sức ép quân sự
thêm cho VN ở phía Nam, và dùng kế nghi binh khiến VN hoang mang, lo lắng sợ Mỹ
quay lại, muốn VN lo ngại không dám điều quân từ miền Nam ra miền Bắc.
Đối với Trung Quốc thì Hoa Kỳ tỏ ra
hành động này là "giúp đỡ" gián tiếp cho Trung Quốc, làm theo sự yêu
cầu trợ giúp, hậu thuẫn của Trung Quốc, nhưng bên trong thực chất Hoa Kỳ cũng
hy vọng nếu như Trung Quốc thắng thì họ sẽ nhảy vào chia chác / tranh giành lợi
ích với Trung Quốc, nhưng do hải quân Liên Xô đã triển khai, nhiều tàu chiến
Liên Xô, được sự cho phép của Việt Nam, đã tích cực hoạt động ngăn chặn tàu Mỹ
ở Biển Đông, hạn chế phần nào hoạt động của tàu chiến Mỹ. Sau đó do sợ leo
thang căng thẳng, xung đột với đối thủ Chiến tranh Lạnh Liên Xô, lại thấy tình
hình chiến sự ở miền Bắc VN bất lợi cho Trung Quốc, nên Mỹ lảng vảng khoảng 2
tuần rồi đành phải rút đi.
Sự kiện này cho thấy sự giúp đỡ có
hiệu quả trong việc giúp Việt Nam bảo vệ Biển Đông của Liên Xô trong cuộc
chiến. Và cho thấy mặc dù Mỹ - Trung cùng chung một chiến tuyến, nhưng hai bên
không thật lòng với nhau, mà mỗi bên đều có những dụng ý riêng, toan tính
riêng, mưu mô khác nhau, và đều vì cái lợi của chính mình.
Kết quả
Tuy Việt Nam đã chiến thắng, gây tổn
hại nặng nề cho quân đội Trung Quốc, thành công đẩy lui giặc xâm lược, và Trung
Quốc đã thua to về quân sự, chính trị, chiến thuật, chiến lược, nhưng trong
cuộc chiến Việt Nam cũng chịu thiệt hại nặng nề về người và của. Cuộc xâm lấn
của Trung Quốc đã để lại nhiều tác hại lớn cho kinh tế và xã hội Việt Nam.
Ngoài những thương vong về con người, thiệt hại cụ thể về cơ sở vật chất hạ
tầng ở 6 tỉnh biên giới bị phá hủy do trận chiến, Việt Nam còn phải gánh chịu
nhiều khó khăn, tổn thất, do thái độ và chính sách thù nghịch, thù hằn, vây hãm
mà các thế lực thù địch ở Trung Quốc, Hoa Kỳ và các đồng minh, đàn em, chư hầu
của họ gây ra trên các mặt trận quân sự, kinh tế, ngoại giao, văn hóa...
Theo tướng Ngũ Tu Quyền, phó tổng tư
lệnh Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc thừa nhận, thì Trung Quốc có hơn 2 vạn
chiến binh tử trận trên chiến trường Bắc Việt Nam. Theo nhà sử học Gilles
Férier thì có khoảng 25.000 lính Trung Quốc thiệt mạng và gần 500 xe bọc thép
hoặc pháo bị phá hủy, con số này phía Việt Nam cũng là gần tương tự nhưng thấp
hơn một chút. Ông Russell D. Howard thì cho rằng quân Trung Quốc thương vong 6
vạn người, trong đó số chết là 26.000. Một số nguồn khác cũng đồng ý với con số
thương vong ít nhất khoảng 50.000 của phía Trung Quốc. Nguồn của sử gia Mỹ gốc
Hoa King C. Chen cho rằng riêng tại các bệnh viện lớn ở Quảng Tây đã có ít nhất
30.000 thương binh Trung Quốc. Tháng 4 năm 1979, Tạp chí Quân đội Nhân dân của
Việt Nam ước lượng tổng thương vong của quân Trung Quốc là 62.500 người. Việt
Nam có hàng nghìn dân thường chết và bị thương. Theo Tạp chí Time thì có khoảng
dưới 10.000 lính Việt Nam thiệt mạng (con số này Trung Quốc đưa lên thành
"20.000"). Trung Quốc bắt được khoảng 1.600 tù binh trong tổng số hơn
5 vạn quân Việt Nam tham chiến tại mặt trận Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn.
Theo nghiên cứu chính thức của giới sử
học Việt Nam và Quân đội Nhân dân, kết quả chiến đấu của quân ta như sau:
Mặt trận Lạng Sơn: Diệt 19.000 tên
giặc, phá hủy 76 xe tăng, thiết giáp và 52 xe quân sự, 95 khẩu pháo-cối và giàn
phóng hoả tiễn, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 3 trung đoàn, 4 tiểu đoàn
(tương đồng nhưng hơi khác biệt so với ký sự của Sư đoàn Sao Vàng).
Mặt trận Cao Bằng: Diệt 18.000 lính
giặc, phá hủy 134 xe tăng, thiết giáp và 23 xe quân sự, tiêu diệt và đánh thiệt
hại nặng 7 tiểu đoàn.
Mặt trận Hoàng Liên Sơn (Lào Cai):
Diệt 11.500 quân giặc, phá hủy 66 xe tăng, thiết giáp và 189 xe quân sự, tiêu
diệt và đánh thiệt hại nặng 4 tiểu đoàn.
Mặt trận Quảng Ninh, Lai Châu và Hà
Tuyên: Diệt 14.000 tên địch, phá hủy 4 xe tăng, thiết giáp, 6 xe quân sự, tiêu
diệt và đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn.
Cuộc chiến cũng đã gây ra những thiệt
hại nặng nề cho kinh tế Việt Nam; các thị xã Lạng Sơn, Cao Bằng, thị trấn Cam
Đường bị hủy diệt hoàn toàn, 320/320 xã, 735/904 trường học, 428/430 bệnh viện,
bệnh xá, 41/41 nông trường, 38/42 lâm trường, 81 xí nghiệp, hầm mỏ và 80.000 ha
hoa màu bị tàn phá, 400.000 gia súc bị giết và bị cướp. Khoảng một nửa trong số
3,5 triệu dân bị mất nhà cửa, tài sản và phương tiện sinh sống. Về phía Trung
Hoa, cuộc chiến ngắn ngày đã tiêu tốn của nước này khoảng 1,3 tỷ USD và làm ảnh
hưởng tiêu cực nặng nề đến quá trình cải cách kinh tế.
Về lâu dài, nó mở đầu cho hơn 10 năm
căng thẳng trong quan hệ và xung đột vũ trang dọc biên giới giữa hai quốc gia,
buộc Việt Nam phải thường xuyên duy trì một lực lượng quân sự khổng lồ dọc biên
giới, gây hậu quả mất cân đối, mất cân bằng, ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế.
Sinh hoạt và sản xuất của người dân vùng biên giới bị ảnh hưởng tiêu cực. Sau
chiến bại, Đặng Tiểu Bình và chính phủ Trung Quốc liền cấp tốc hiện đại hóa
quân đội.
Đánh giá
Đặng Tiểu Bình thú nhận đã thất bại về
quân sự và chiến thuật, nhưng cũng cố chống chế rằng "chúng tôi đã thắng
về chính trị và chiến lược". Trần Vân, phó Thủ tướng, 1 trong 5 nhân vật
quyền lực nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc cùng với Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu
Kỳ, Chu Ân Lai và Chu Đức cũng thừa nhận rằng đánh Việt Nam không được cái gì,
dù có cố gắng thì cũng không chịu được quá 6 tháng. Ông ta không dám trơ tráo
vỗ ngực "chiến thắng" như Đặng Tiểu Bình và chỉ nói rằng vì lý do
kinh tế, không nên lặp lại một cuộc chiến "bất phân thắng bại",
"không có kết quả" như vậy. Như vậy dù không trơ trẽn như Đặng Tiểu
Bình nhưng ông ta vẫn không dám nói thẳng ra sự thật là Trung Quốc đã thua.
Theo đánh giá của nhà sử học người Mỹ
gốc Hoa King C. Chen, Trung Quốc chỉ đạt được vòng quanh 50% các mục tiêu của
mình. Ngoài ra Trung Quốc đã không đạt được kết quả như các mục tiêu họ công
bố: Họ không tiêu diệt được sư đoàn nào của Việt Nam. Không chấm dứt được xung
đột vũ trang ở biên giới Việt – Trung. Không buộc được Việt Nam rút quân khỏi
Campuchia. Không làm cho chính phủ Việt Nam sửa đổi chính sách đối với Hoa
kiều, chính sách đối với Campuchia, chính sách đối với Trung Quốc, với Liên Xô,
với Hoa Kỳ v.v., không buộc được Việt Nam thay đổi bất kỳ chính sách nào, từ
nội trị tới đối ngoại, từ chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao đến văn hóa.
Không làm cho Việt Nam sợ mà "xuống nước", nhường nhịn, hay lùi 1
bước nào trước Trung Quốc, Khmer Đỏ, không làm cho VN thay đổi thái độ và chính
sách với Liên Xô, Hoa Kỳ và các nước. Không làm VN bỏ chính sách và thái độ
chống đối, thù nghịch đối với Trung Quốc - Khmer Đỏ.
Tóm lại, Trung Quốc không gây được một
chút ảnh hưởng, tác động, thay đổi nào lên chính phủ Việt Nam theo ý muốn của
họ, Việt Nam vẫn kiên cường, kiên định, nhất quán trước sau như một với các
chính sách, thái độ, phong cách của mình với các vấn đề nội trị, với các quốc
gia khác, và đồng thời càng gia tăng sự căm thù đối với Trung Quốc và đồng
minh, xem Trung Quốc là "kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm" nhất, và tăng
cường tuyên truyền chống Trung Quốc trên các phương tiện thông tin đại chúng,
trong nước và quốc tế, và càng ở "lỳ" Campuchia, cho thêm quân vào
Campuchia, và càng đóng giữ lâu hơn. Trung Quốc càng hung hăng thì Việt Nam
càng xa lánh họ hơn và càng tăng cường làm trái, làm ngược lại với tất cả mọi
yêu cầu, đòi hỏi, đề nghị, quan điểm, chính kiến và lợi ích của họ. Ngang nhiên
"thách thức" Trung Quốc và tựa hồ "chọc giận" họ, làm Đặng
Tiểu Bình và đồng bọn rất cay cú, điên tiết.
Về quân sự, giáo sư Edward C. O'Dowd
đánh giá rằng quân Trung Quốc rất thiện nghệ khi thao luyện trong quân trường ở
miền Nam Trung Hoa, nhưng khi vào thực chiến trên chiến trường miền Bắc Việt
Nam thì họ lại thể hiện một phong độ chiến đấu tồi tệ. Tại Lạng Sơn, 2 Quân
đoàn Trung Quốc đã bị một trung đoàn Quân đội Nhân dân Việt Nam cầm chân trong
1 tuần, một Quân đoàn khác cần 10 ngày để tiến vào Lào Cai và Cam Đường - hai
đô thị cách biên giới không đến 15 km. Trung Quốc chiếm Cao Bằng vất vả đến mức
cần ít nhất 2 Quân đoàn để tiếp tục tấn công một thị xã mà Trung Quốc tuyên bố
đã chiếm được. Tại Quảng Ninh, một trung đội QĐND Việt Nam đã cầm chân 5 tiếng
đồng hồ một trung đoàn Trung Quốc đang trên đường chiếm núi Cao Ba Lanh giáp
biên giới, gây thương vong cho 360 trong quân số 2800 của trung đoàn này. Những
tổn thất nhân mạng như vậy lặp đi lặp lại trên toàn mặt trận và đem lại thương
vong và tổn thất nặng nề cho Trung Quốc.
Quân Trung Quốc đã không sử dụng được
số quân đông vượt trội đối thủ một cách hiệu quả và do đó không thể đạt được
tốc độ hành binh như mong muốn của chiến lược "tốc chiến tốc quyết".
Đây là hậu quả của sự lạc hậu về chiến thuật tác chiến của quân đội Trung Quốc
vốn gần như không được cải thiện kể từ sau chiến thuật biển người (nhân hải)
trong chiến tranh Trung - Nhật, nội chiến Trung Quốc, và chiến tranh Triều
Tiên. Thất bại của quân đội Trung Quốc đã buộc Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản
Trung Quốc phải chú tâm đẩy mạnh quá trình hiện đại hóa quân đội, đặt việc hiện
đại hóa quân đội làm trọng tâm hàng đầu, ưu tiên quân sự, quốc phòng.
Trên phương diện quan hệ quốc tế, cuộc
chiến Việt - Trung cho thấy rằng Trung Quốc, với sự ủng hộ của Hoa Kỳ, sẵn sàng
can thiệp quân sự vào Việt Nam, một quốc gia theo XHCN, từng là đồng minh trong
nhiều năm, kết quả chiến tranh cũng cho thấy Việt Nam đủ sức chống lại sự tiến
công đó mà không phải điều động quân chủ lực từ biên giới Tây Nam và miền Nam
Việt Nam. Những sự kiện từ cuộc chiến cũng cho thấy mối quan hệ đan xen phức
tạp giữa Liên Xô - Việt Nam - Trung Quốc - Hoa Kỳ, đồng thời cho thấy Liên Xô
cũng không sẵn sàng dùng quân đội giúp Việt Nam chống xâm lược, mà chỉ tăng
cường viện trợ kinh tế, quân sự một cách có hạn và có hoàn lại. Sau này Việt
Nam vẫn phải trả nợ dần và được Liên bang Nga xóa nợ sớm. Những điều này đã
khiến nhiều người Việt Nam sau đó nghi ngờ về đồng minh Liên Xô và việc này cũng
ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của Liên bang Xô Viết.
Kết quả cuộc chiến cũng cho thấy Trung
Quốc đã hoàn toàn bất lực, bó tay, thúc thủ trong việc hỗ trợ đệ tử Khmer Đỏ và
thất bại trong việc điều chỉnh quan hệ ngoại giao để tăng cường ảnh hưởng trong
khu vực Đông Nam Á.
Mặc dù không có mục tiêu chiến thuật,
chiến lược, quân sự, chính trị nào đạt được, nhưng đến nay những lãnh đạo đương
nhiệm của Trung Quốc vẫn cố chấp, bảo thủ, vẫn chưa thay đổi quan điểm, họ thừa
nhận Trung Quốc đã thất bại về quân sự nhưng lại cố bao biện rằng "đã đạt
được một số thành công về chiến lược, và vì vậy chúng tôi chiến thắng".
Cuộc xâm lược này cũng là một thất bại ngoại giao và thất bại uy tín của Trung
Quốc không những trên quốc tế, không những với đệ tử Pol Pot, mà còn với khu
vực, vô tình họ đã tỏa ra một "sát khí" đầy đe dọa, phô bày ác tính,
vô hình trung cho các nước trong khu vực, các láng giềng hàng xóm chung quanh
thấy rằng, đấy, "thiên triều", "Bắc triều" sẵn sàng dùng
bạo lực và đi xâm lược, bành trướng, giết chóc nếu vị thế và uy lực của mình bị
thách thức. Vô ý tạo ra một nhu cầu đoàn kết giữa các nước Đông Nam Á, hình
thành một động lực cho các quốc gia trong khu vực cùng nhau bắt tay đề phòng
hiểm họa Trung Quốc, và khi cần thiết thì sẽ chống lại họ.
Trong cuộc chiến này, Trung Quốc cũng
thể hiện một tư thế thấp kém qua phong cách tiến hành chiến tranh mang tính
chất "cắn trộm", "đánh lén". Trung Quốc và cả thế giới đều
biết quân lực của Việt Nam đều tập trung ở miền Nam Việt Nam và chiến trường
Campuchia, và TQ đã thừa cơ hội đó đã bất ngờ xua quân tràn sang tấn công Việt
Nam. Họ phát ngôn nghe rất oai phong lẫm liệt nhưng khi quân đội chính quy Việt
Nam ào ào kéo ra Bắc thì họ lập tức lui nhanh. Đánh xong rồi chạy.
Thật ra họ đánh giá thấp khả năng tự vệ,
đánh trả của các lực lượng tân binh, quân đội địa phương, và dân quân - tự vệ
của Việt Nam, họ cho rằng trước khi đại quân Việt Nam đến nơi thì họ đã dễ dàng
vượt qua các hàng phòng ngự VN với thương vong không đáng kể, và đã đánh tới Hà
Nội hoặc chiếm xong thủ đô của Việt Nam, biến thành một sự đã rồi. Nhưng thực
tế lại khác, "thiên bất dung gian", TQ không ngờ sinh lực của họ bị
thiệt hại nặng nề đến vậy chỉ với những lực lượng kể trên, và hầu như không có
một cơ hội nào kéo quân đến được Hà Nội chứ đừng nói là đánh chiếm được. Nên
khi quân đội chủ lực VN tới nơi, và các lực lượng khác đang trên đường đi tới,
thì họ vội “chuồn êm” vì biết rõ kết quả sẽ như thế nào nếu ngoan cố ở lại.
Trung Quốc không thể thắng nổi những tân binh địa phương, bạch đầu quân, nữ du
kích, công an xung phong, dân quân, tự vệ thì họ không thể chống được với lực
lượng đại quân, tinh binh, các lực lượng chính quy, chủ lực, tinh nhuệ, nhiều
kinh nghiệm chiến đấu, nhiều chiến công của quân đội VN.
Trong một bài viết hiếm hoi trên báo
chí Trung Quốc về cuộc xâm lược Việt Nam năm 1979, bài nghiên cứu “Trong cuộc
chiến năm 1979: Vì sao không chia cắt Việt Nam, vì sao thương vong khi rút về
lớn hơn khi tấn công?” trên báo điện tử China.com do ông Dương Danh Dy dịch
thuật, họ đã thừa nhận: “Lâu nay chúng ta luôn tuyên truyền rằng chúng ta
‘chiến thắng‘, nhưng cùng với thời gian, những văn kiện của ta, những tư liệu
của Việt Nam và quốc tế cho thấy cuộc chiến này không lạc quan như tuyên truyền
trước đây, trong đó có nhiều bài học nặng nề đau đớn khiến chúng ta không thể
không phản tỉnh một cách sâu sắc”.
Sau khi xem lại, đánh giá lại và thừa
nhận kết quả cuộc chiến, bài viết tiếp tục thừa nhận bản chất của cuộc chiến:
“Ba đại kỷ luật, tám điều chú ý mà quân đội ta giữ nghiêm đã phát huy tác dụng
trong cuộc kháng chiến chống phát xít Nhật và cuộc Quốc-Cộng nội chiến; thế
nhưng khi chúng ta vào Việt Nam đánh họ mà vẫn thực hiện 3 đại kỷ luật, 8 điều
chú ý là tự trói chân tay mình lại, hy vọng dùng những kỷ luật đó để tranh thủ
sự giúp đỡ và ủng hộ của nhân dân Việt Nam chống đất nước của họ thì chẳng khác
gì đàn gẩy tai trâu, tự chuốc nhục nhã.”, “Nhân dân Việt Nam không phải là công
dân Trung Quốc, làm sao họ có thể gần gũi quân đội nước ngoài đánh vào nước
họ?”, “Chiến tranh là chiến tranh, nhất là chiến tranh giữa các quốc gia, anh
không thể hy vọng nhân dân nước khác đánh trống khua chiêng hoan nghênh
anh xâm chiếm người ta, đó chẳng qua chỉ là trò bịt tai trộm
chuông, dối mình dối người.”
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét