Áp lực quân sự nơi
biên giới
Song song với việc hoạt động phá hoại
kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hóa, và tuyên truyền, bọn phản động Trung
Quốc ráo riết tăng cường sức ép quân sự đối với Việt Nam từ mọi phía, đặc biệt
là phía Bắc và phía Tây Nam.
Tại phía Bắc, họ đưa quân ra biên giới
Việt – Trung, tăng cường những vụ khiêu khích vũ trang và xung đột quân sự,
dùng mọi thủ thuật nham hiểm, âm mưu lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam, xâm phạm chủ
quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Tạo nên tình hình thường xuyên căng
thẳng ở vùng biên giới. Theo cuốn sách "Sự thật về Quan hệ Việt Nam -
Trung Quốc 30 năm qua" của NXB Sự Thật xuất bản tháng 10 năm 1979, số vụ
chạm súng, đụng độ quân sự, xung đột lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc năm
1975 là 234 vụ, gấp rưỡi năm 1974, còn năm 1978 tăng đột biến 2.175 vụ, gấp
mười lần.
Tại phía Tây Nam, theo chỉ thị của Bắc
Kinh, bè lũ diệt chủng Khmer Đỏ khước từ các đề nghị của Việt Nam về việc hai
bên thành lập một khu phi quân sự ở vùng biên giới và ký một hiệp ước hữu nghị
không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào nội bộ của nhau, "nước sông
không phạm nước giếng", họ làm thế là để duy trì cuộc chiến tranh biên
giới chống Việt Nam, đồng thời chuẩn bị những cuộc phiêu lưu quân sự đại quy mô
sau này.
Tại phía Tây, Trung Quốc dùng các gói
viện trợ, dùng "cây gậy và củ cà rốt" để gây áp lực đối với nước Cộng
hòa dân chủ nhân dân Lào. Họ thông đồng với CIA Mỹ, nuôi dưỡng tàn quân của lực
lượng đặc biệt Mèo do CIA tổ chức và chỉ huy trước đây, thông qua đạo quân làm
đường của họ để tìm cách can thiệp sâu vào các tỉnh Bắc Lào, vu cáo Việt Nam
“thôn tính” Lào, ly gián, chia rẽ Lào với Việt Nam, đưa nhiều sư đoàn áp sát
biên giới Lào – Trung. Mục tiêu của họ là để tăng thêm sự uy hiếp Việt Nam về
quân sự từ phía Tây, đồng thời làm suy nhược và từng bước khống chế Lào.
Tình hình Đại sứ quán
Việt Nam tại Trung Quốc
Ngày3/7/1978 chính phủ Trung Quốc tuyên bố cắt hết viện trợ
và rút hết chuyên gia đang làm việc tại Việt Nam về nước. Xung đột biên giới
trên đất liền, nhất là tại điểm nối ray trên đường sắt liên vận Hà Nội-Bằng
Tường ngày càng tăng (có lúc có nơi đã xảy ra đổ máu).
Tháng 7 năm 1978, các nhân viên ngoại giao của Việt Nam ở
Bắc Kinh được phổ biến Nghị quyết TW 4, tinh thần là phải thấu suốt quan điểm
nắm vững cả hai nhiệm vụ vừa xây dựng kinh tế vừa tăng cường lực lượng quốc
phòng, chuẩn bị tốt và sẵn sàng chiến đấu với giặc xâm lược. Tháng 11 năm 1978,
Việt Nam ký “hiệp ước hữu nghị và hợp tác” với Liên Xô.
Đếntháng 12 năm 1978, mọi việc chuẩn bị cho tình huống xấu
nhất trong đại sứ quán đã làm xong. Sứ quán nhận được máy phát điện chạy xăng
(đề phòng bọn bá quyền chơi xấu, cố ý cúp điện), gạo nước, thực phẩm khô (đề
phòng bọn bành trướng chơi bẩn, cúp những cung cấp cơ bản, giữ không cho ra
ngoài đi chợ, mua đồ) đã được tích trữ đầy đủ, đại sứ quán các nước anh em thân
thiết cũng nhận được các đề nghị cụ thể khi bất trắc xảy ra,thỏa thuận, nhất
trí với nhau cùng chống bành trướng, chống bá quyền…
Ông Dương Danh Dy và một số đồng chí lúc đó được phân công
đọc và lựa chọn các tài liệu lưu trữ quan trọng, cái phải gửi về nhà, cái có
thể hủy.
Tháng 12, năm 1978, theo lời kể của ông Dương Danh Dy trên
đài BBC, trong chuyến thăm các nước ASEAN với mục đích trấn an, xoa dịu,làm
công tác tư tưởng, công tác chính trị, chia rẽ, ly gián, nói xấu Việt Nam với
các nước Đông Nam Á. Trong một cuộc trả lời phỏng vấn, ĐặngTiểu Bình cố ý tỏ ra
hùng hổ và "tức tối" nói nguyên văn: “Việt Nam là bạo đồ (chính xác
là "bạo đồ", 暴徒), phải dạy cho Việt Nam bài học”. Sáng hôm sau, báo
chí Trung Quốc thấy câu này không phù hợp với tư cách một lãnh đạo quốc gia,
một lãnh tụ quốc gia lại có thể chửi bới mất tư cách,mang tính chất "hàng
tôm hàng cá" như thế, nên họ đã cắt xén bớt đi phần: "Việt Nam là bạo
đồ", chỉ giữ lại phần "phải dạy cho Việt Nam bài học".
Thật ra Đặng Tiểu Bình “nhập vai” trên truyền hình và nói
vậy là để gián tiếp tuyên truyền cho quan điểm "Trung Quốc chỉ đánh Việt
Nam vì VN xấu, vì VN sai, vì VN là bạo đồ, để dạy VN một bài học thôi chứ không
xâm lược VN, không tham lam 1 tấc đất ngọn cỏ nào của VN". Nhằm trấn an
quốc tế và làm cho VN lơ là, chủ quan, nguội đi nhiệt huyết và quyết tâm đánh
giặc.
Ngày 22 tháng 12 năm 1978, Trung Quốc đơn phương ngừng vận
chuyển hành khách xe lửa liên vận tới Việt Nam, rất nhiều cán bộ, sinh viên
Việt Nam từ Liên Xô, Đông Âu trở về bị kẹt lại trong nhà khách sứ quán chờ đường
hàng không và cuối cùng đến đầu tháng 1 năm 1979 đường bay Bắc Kinh - Hà Nội
cũng bị cắt.
Đầu tháng 1 năm 1979, quân đội Việt Nam bất ngờ tổng phản
công thần tốc trên toàn tuyến biên giới Tây Nam, chỉ trong thời gian ngắn đã
đập tan sức chống cự của KhmerĐỏ, đánh mau đánh mạnh, tốc chiến tốc thắng tiến
vào giải phóng Nam Vang. Hành động quân sự và chiến công nhanh chóng này của
Việt Nam là điều mà Đặng Tiểu Bình và Trung Quốc không thể nào ngờ trước. Đây
là một quả đắng khó nuốt trôi đối với tên trùm xâm lược Đặng Tiểu Bình.
Cuối tháng 1 năm 1979, Đặng Tiểu Bình thăm Mỹ, được Tổng
thống Jimmy Carter đón tiếp với nghi lễ long trọng chưa từng thấy trong lịch sử
ngoại giao Hoa Kỳ, hai nước quyết định thiết lập quan hệ bang giao, và Trung
Quốc đã nhận được sự đồng thuận, bật đèn xanh của Mỹ. Hai lãnh đạo nhất trí
cùng nhau chống Liên Xô, Đông Âu, và Việt Nam. Như vậy, Trung Quốc càng dấn
thân vào con đường phản trắc, "đi đêm" với đế quốc, phản bội lại
những đồng minh cũ, phản bội các nước XHCN, đón gió trở cờ, chơi trò hai mặt,
lá phải lá trái.
Nguyên nhân Trung
Quốc xâm lược Việt Nam
Đầu tiên là quan hệ Mỹ - Trung, lúc bấy giờ Hoa Kỳ và Trung
Quốc đều có chính sách thù địch với Liên Xô và Việt Nam. Mỹ muốn "trả thù
chính trị"VN, đồng thời cũng muốn chia rẽ Việt Nam và Trung Quốc, muốn
kích cho Trung Quốc đem quân đánh Việt Nam, chia rẽ 2 nước cộng sản, muốn quan
hệ hai nước bị "mất cầu" và không còn đường về.
Trung Quốc thì cay cú trước một nước Việt Nam thống nhất,
vốn đã hằn học, thù địch với VN từ lâu, từ giấu mặt đến công khai, do đó 2 tên
cướp này hình thành một "liên minh ma quỷ" để thực hiện những mưu đồ
riêng, dụng tâm riêng và mục đích chung, nhu cầu chung của hai nước, chủ yếu đó
là chống Liên Xô và chống Việt Nam, chống VN để cho LX mất một đồng minh chiến
lược quan trọng. Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh đã cho biết trong cuộc trả lời
phỏng vấn trên BBC: "Vì Trung Quốc lúc bấy giờ muốn phát triển quan hệ với
Mỹ. Đánh Việt Nam là một món quà tặng cho Mỹ."
Tất cả đều nằm trong ý đồ chia rẽ Trung - Việt của Mỹ và ý
đồ "liên Mỹ đả Việt" của Trung Quốc. Một tên thực dụng và một tên
"thâm nho", đều biết mánh của nhau nhưng vì những lợi ích của mình,
chấp nhận "thuận nước đẩy thuyền","tương kế tựu kế", lợi
dụng lẫn nhau trong một ván bài lật ngửa. Đây thật sự là một cuộc đấu trí chính
trị ngoạn mục nhưng cũng đầy thủ đoạn dơ bẩn của hai cường quốc.
Trong bản dịch của học giả Dương Danh Dy nhân kỷ niệm 32
năm Chiến tranh Biên giới, Đặng Tiểu Bình tiết lộ là Mỹ đã cung cấp nhiều tin
tức tình báo cho Trung Quốc trước cuộc chiến, những tin tức tình báo này có lợi
cho việc đánh Việt Nam, và trong cuộc chiến thì Mỹ cũng tiếp tục giúp đỡ, hỗ
trợ tình báo cho Trung Quốc qua cơ quan CIA. Nhiều quan chức CIA đã sang Trung
Quốc để nghiên cứu, tư vấn, chia sẻ, và nhiều quan chức tình báo Trung Quốc
cũng sang Mỹ lúc đó để tham vấn, bàn thảo, học hỏi. Hai bên đã chia sẻ thông
tin tình báo về Việt Nam cho nhau. Tình báo về VN là những thông tin mà Mỹ nắm
rõ nhất, nhất là trong thời điểm đó, ở miền Nam VN vẫn còn rất nhiều "săn"
làm việc cho CIA.
Thứ nữa là quan điểm cá nhân của trùm xâm lăng Đặng Tiểu
Bình, trong bài dịch của học giả Dương Danh Dy từ một số tư liệu Trung Quốc thì
cho thấy Đặng Tiểu Bình tỏ ra có quan điểm thù ghét Việt Nam một cách khác
thường, có cách nhìn về VN một cách cực đoan hơn hẳn các đồng liêu.
Lịch sử chính trị của CHND Trung Hoa cũng cho thấy, từ khi
Đặng Tiểu Bình thắng thế trong cuộc tranh quyền đoạt vị, đấu tranh quyền lực
quyết liệt và đẫm máu thì Trung Quốc dần chuyển sang hướng thân Mỹ, thân Tây,
chống Việt, chống Xô, "viễn giao cận công", "bán láng giềng gần
mua người dưng xa". Quyền lực của Đặng Tiểu Bình càng củng cố, càng mạnh,
quyền hành của ông ta càng nhiều, càng rộng lớn, thì Trung Quốc càng hung hăng
và quan hệ Trung - Việt càng tồi tệ hơn. Cho thấy Đặng Tiểu Bình chính là kẻ
đứng đầu bọn bành trướng, bá quyền, phản động trong giới cầm quyền Bắc Kinh.
Trong lịch sử quan hệ Việt - Trung mấy nghìn năm nay, phần
lớn thời gian là hai bên sống chung hòa thuận trong sự dè dặt, cẩn trọng nhất
định. Xung đột, chiến tranh nổ ra thường đầu tiên xuất phát từ mâu thuẫn lợi
ích giữa 2 nước, 2 dân tộc, sau đó chủ yếu là từ một bọn chống Việt, hiếu
chiến, cực đoan, quá khích trong triều đình, nhà nước Trung Hoa.
Sau những cuộc cách mạng tư sản lật đổ chủ nghĩa phong
kiến, trong các quốc gia tư bản luôn có một bộ phận lớn chính trị gia như những
ký sinh trùng, ăn bám, sống bám trên chiến tranh, quân sự. Có chiến tranh, có
đổ máu, có các chiến dịch quân sự, có xung đột quân sự, phải dùng đến súng đạn,
vũ khí, khí tài chiến tranh, công nghệ quốc phòng, ngân sách quốc phòng phải
cao thì họ mới làm giàu được. Trung Quốc tuy mang danh là một nước XHCN, nhưng
dần chệch hướng và phản bội, và với thực lực quân sự đáng kể của một đại cường
quốc, trong giới cầm quyền Bắc Kinh cũng có những bộ phận sống ký sinh trên
chiến tranh này, phải có chiến tranh thì họ mới có lợi, chiến tranh, quân sự,
công nghiệp vũ khí, giao dịch vũ khí v.v. đã gắn liền với lợi ích, quyền lợi
của họ.
Những thành phần trên (chống Việt, hiếu chiến, cực đoan, ký
sinh trùng) chưa hội đủ quyền lực thì Việt Nam và Trung Quốc yên ổn, đến khi
chúng hội đủ quyền lực, có được quyền cao, hay nguy hiểm hơn là chúng lên nắm
quyền, thì Việt - Trung khó tránh khỏi chiến tranh. Đây là một quy luật chính
trị, một vòng lẩn quẩn suốt nhiều ngàn năm nay. Do đó, khi Đặng Tiểu Bình và
đồng bọn cùng tư tưởng, cùng quan điểm, cùng ý chí, "ngưu tầm ngưu, mã tầm
mã" lên cầm quyền thì có thể thấy quyết định xâm lược Việt Nam chỉ còn là
vấn đề thời gian.
Trong một nghiên cứu năm 2010, tiến sĩ người Mỹ gốc Hoa
Trương Tiểu Minh từ U.S. Air War College, Hoa Kỳ cũng thừa nhận Đặng Tiểu Bình
có vai trò cá nhân nổi bật, và là vai trò quyết định trong chiến tranh xâm lấn
Việt Nam. Theo ông, nhìn từ quan điểm
của ban lãnh đạo TQ khi đó thì có 3 yếu tố khiến cho cuộc
chiến trở nên khả thi; đó là quan hệ đặc biệt giữa Moscow và Hà Nội sau hiệp
định 1978, vai trò chủ chốt, thiết yếu của Việt Nam ở Đông Dương, đối với
Campuchia và Lào, cản đường Trung Quốc mở ra và tiến xuống Đông Nam Á, và quan
hệ xấu đi nghiêm trọng giữa Bắc Kinh và Hà Nội. Còn về nội bộ, theo tiến sĩ
Trương Tiểu Minh, chính việc thăng chức của Đặng Tiểu Bình,từ vị trí phó thủ
tướng lên chức vụ cao nhất, nắm Quân ủy Trung ương tại Hội nghị Trung ương 3,
Ban Chấp hành Trung ương khóa 11 của Đảng Cộng sản Trung Quốc, là yếu tố quyết
định cho việc xâm lược CHXHCN Việt Nam.
Đó là đại cương về yếu tố Hoa Kỳ, yếu tố Đặng Tiểu Bình,
người nắm quyền cao nhất Trung Quốc thời đó. Bây giờ chúng ta hãy cùng đi sâu
vào các chi tiết cụ thể, các mục tiêu, mục đích Trung Quốc, để giải đáp câu
hỏi: Trung Quốc muốn gì, Trung Quốc xâm lược Việt Nam để làm gì.
Quan hệ ngoại giao
rạn nứt giữa Việt - Trung
Có nguyên nhân thì mới có hậu quả, trước hết cần xem xét
lại những mâu thuẫn đưa tới sự rạn nứt, dần đưa tới sự xung đột, và rồi là
chiến tranh tổng lực, chiến tranh toàn diện giữa Trung Quốc và Việt Nam năm
1979. Đi ngược thời gian, năm 1972, chuyến thăm của tổng thống Mỹ Nixon tới Bắc
Kinh và thỏa thuận giữa Mỹ và Trung Quốc được Việt Nam xem là một sự phản bội
và ta công khai nói rõ điều này, triệu tập quan chức đại sứ quán Trung Quốc đến
để bày tỏ bất bình và phản đối.
Năm 1975, trong chuyến thăm Bắc Kinh, Bí thư thứ nhất Lê
Duẩn đã thẳng thừng từ chối đưa Việt Nam vào liên minh chống Liên Xô của Trung
Quốc, bác bỏ ngay quan điểm của Trung Quốc rằng "chủ nghĩa bá quyền Liên
Xô" là mối đe dọa đối với các nước cộng sản châu Á.
Ông Lê Duẩn rời Trung Quốc mà không tổ chức tiệc đáp lễ
theo truyền thống, và cũng bác bỏ không ký vào thỏa thuận chung. Tư thế của ông
Lê Duẩn lúc đó xứng đáng là của một người Việt Nam, một VN đã dám đánh Mỹ và
biết thắng Mỹ. Bắc Kinh điên tiết, từ đó bắt đầu nói về một Việt Nam "hắc
tâm", "vô ân", "ngạo mạn". Viện trợ của Trung Quốc sau
đó giảm xuống không còn bao nhiêu, đến năm 1978 thì cắt toàn bộ. Để vừa có thể
chấm dứt viện trợ cho Việt Nam, thất hứa (năm 1973 Trung Quốc trước áp lực của
Liên Xô và các nước XHCN, muốn giữ uy tín nên đã cam kết viện trợ cho VN) mà
không bị "mất mặt bầu cua", muốn vớt vát chút uy tín, mặt mũi, giữ tư
cách đứng đầu phe XHCN, Trung Quốc bày ra trò đặt "điều kiện" cho
Việt Nam, rằng muốn TQ viện trợ thì phải từ chối tất cả các khoản viện trợ của
Liên Xô, trong khi đã biết trước Việt Nam không bao giờ làm thế, và dĩ nhiên
Việt Nam không quan tâm và không đáp ứng. Từ đó, nhà cầm quyền Trung Quốc nói
chung và Đặng Tiểu Bình nói riêng có ác cảm với Lê Duẩn, sau này Mỹ - Trung
tăng cường ráo riết tuyên truyền chống Lê Duẩn. Trung Quốc tập trung tuyên
truyền trong nội bộ những người cộng sản. Hoa Kỳ tập trung tuyên truyền trong
bọn phản động gốc Việt. Đồng thời, một số sai lầm trong công tác lãnh đạo,
những tính chất độc tài, độc đoán, chuyên quyền trong phong cách lãnh đạo của
Lê Duẩn cũng làm những tuyên truyền này phát huy hiệu quả nhất định.
Tự "mua dây buộc mình", Trung Quốc càng ngang
ngược gây sức ép thì càng đẩy Việt Nam quan hệ chặt chẽ hơn với Liên Xô, ép
Trung Quốc vào giữa, vào thế gọng kìm, rồi Trung Quốc lại thấy mình bị đe dọa
từ hai phía. Đồng thời, Việt Nam cũngđang cố gắng xây dựng mối quan hệ đoàn kết
giữa 3 nước Đông Dương mà Việt Nam giữ vị thế đứng đầu. Cùng với thực tế rằng
nước Việt Nam thống nhất đã trở thành một sức mạnh quan trọng trong vùng, làm
suy giảm đáng kể ảnh hưởng của Trung Quốc. Những điều này làm cho Trung Quốc
cay cú không muốn chấp nhận, và luôn rêu rao, lu loa tuyên truyền về một
"tiểu bá quyền", "tiểu bá Việt Nam" và "đại bá quyền
Liên Xô bao vây chúng tôi từ phía Bắc, khiến chúng tôi không có lối ra".
Từ đó, một Nhà nước Campuchia chống Việt Nam đã trở thành một quân cờ, một lá
bài quan trọng đối với TQ.
Quan hệ Việt Nam - Khmer Đỏ ngày càng đi xuống, bắt đầu từ
tháng 5 năm 1975, ngay sau khi Việt Nam thắng Mỹ, Khmer Đỏ dưới sự xúi giục của
quan thầy Trung Hoa, cho quân xâm lược, đánh chiếm các đảo Phú Quốc, Thổ Chu và
bắt cóc hàng trăm dân thường, lên cao trào vào những năm 1977-1978 khi Khmer Đỏ
liên tục quấy phá đánh sâu vào lãnh thổ Việt Nam tàn sát hàng chục ngàn dân
thường. Trong suốt thời gian đó và cả về sau, Trung Quốc luôn là nước viện trợ
đắc lực cho Khmer Đỏ về vũ khí, khí tài cũng như cố vấn quân sự. Hoa Kỳ thì
ngầm ủng hộ và bênh vực, giúp đỡ Khmer Đỏ trên mặt trận ngoại giao. Các nỗ lực
ngoại giao của Việt Nam nhằm đạt được mục tiêu hòa bình, hay chí ít để xoa dịu
căng thẳng với Trung Quốc và Khmer Đỏ đều vô hiệu, sự thật là Trung Quốc đã sử
dụng chư hầu Khmer Đỏ tấn công Việt Nam.
Từ năm 1973, Liên Hiệp Quốc bắt đầu thảo luận về vấn đề chủ
quyền của các quốc gia đối vớivùng đặc quyền kinh tế trên biển. Chính phủ Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa khi đó đã tuyên bố ngay chủ quyền với các quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa dựa theo hiệp ước Pháp - Thanh ký kết năm 1887. Về phía Trung
Quốc, với cuộc khủng hoảng dầu lửa những năm 1970, họ đã tìm kiếm các nguồn
khai thác dầu mỏ trên Biển Đông sát với Việt Nam, đồng thời cũng nhân việc này
thực hiện chiến lược bao vây Việt Nam, "nhất thạch nhị điểu",
"một đá chọi hai chim". Tranh chấp giữa hai nước về hai quần đảo này
đã bắt đầu ngay từ năm 1975 sau khi nước Việt Nam thống nhất tiếp tục tuyên bố
chủ quyền đối với hai quần đảo này.
Tuyên bố chủ quyền của nước Việt Nam thống nhất năm 1975
đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa;cách ứng xử của Việt Nam đối với một
bộ phận người Hoa; và cố gắng của Việt Nam trong việc xây dựng quan hệ chặt chẽ
giữa ba nước Đông Dương được bọn bá quyền Trung Quốc xem là nỗ lực nhằm
"thống trị Đông Dương" và là ví dụ về sự "vô ơn", "đen
tối" và "tham vọng", "cuồng vọng" của Việt Nam. Ngay
trong năm 1975, Trung Quốc viện trợ không hoàn lại (cho không) Khmer Đỏ một số
vũ khí Liên Xô viện trợ trước đây, và một số vũ khí Liên Xô viện trợ cho Việt
Nam nhờ TQ chuyển hộ, nhưng TQ giấu lại rồi báo cáo gian trá, cũng như một số
quyền lợi kinh tế.
Họ cho Khmer Đỏ vay không lấy lãi 1 tỷ USD và ký kết một
hiệp ước quân sự bí mật với chính quyền Khmer Đỏ vào tháng 2 năm 1976. Chính
sách ngoại giao của Trung Quốc với khu vực Đông Nam Á cũng được thay đổi theo
hướng tăng cường quan hệ và chơi trò mặt trái, mặt phải với khối ASEAN, mưu
đồchia rẽ, ly gián, muốn "bẻ gãy từng chiếc đũa một", đồng thời dụ dỗ
các nước này theo Trung Quốc chống Việt Nam và Liên Xô, thân Khmer Đỏ, và cắt
bỏ viện trợ của các nước này đối với các đảng cộng sản ở Đông Nam Á.Càng lúc
càng lún sâu vào con đường bội phản.
Cuối năm 1978, căng thẳng giữa Việt Nam với cả hai thầy trò
Trung Quốc và Khmer Đỏ đều lên một đỉnh cao mới. Ngày 23 tháng 12 năm 1978,
Quân đội Nhân dân Việt Nam tổng phản công trên biên giới Tây Nam, đánh mau đánh
mạnh, tốc chiến tốc thắng, tiến vào thủ đô Nam Vang lật đổ chính quyền diệt
chủng Khmer Đỏ. Đặng Tiểu Bình cũng vừa kết thúc chuyến công du và công tác ở
Mỹ, cùng với việc ông ta lớn tiếng đe dọa "dạy cho Việt Nam một bài
học", Trung Quốc tự tin vì có được hậu thuẫn, tán thành từ Hoa Kỳ. Trung
Quốc thâm hiểm cắt nguồn viện trợ dầu cho Việt Nam vào cuối năm 1978, vốn chiếm
tới hơn một nửa tiêu thụ dầu của Việt Nam, trong khi Liên Xô chưa
kịp viện trợ bổ sung, cũng khiến dự trữ dầu chiến lược của
Việt Nam bị thiếu hụt trong thời điểm quyết định khi quân Trung Quốc tấn công.
Ngày24 tháng 2, Trưởng Ngân khố Mỹ Blumenthal và các cộng
sự của chính quyền Carter công du và làm việc với CHND Trung Hoa, ủng hộ và
khuyến khích Trung Quốc mạnh tay hơn, và đảm bảo với TQ tình hình tại vùng
duyên hải Phúc Kiến đối diện với Đài Loan sẽ yên tĩnh trong thời gian đầu năm 1979,
khiến họ có thể yên tâm tái bố trí các lực lượng tại Phúc Kiến về hướng biên
giới phía Nam với VN. Sách lược "liên Mỹ đả Việt" đã quá rõ ràng.

Lãnh tụ Trung Quốc Đặng Tiểu Bình và
Tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter
Quan hệ trong khu vực
Cùng lúc căng
thẳng Việt Nam - Trung Quốc lên cao thì ở biên giới phía Tây Nam của Việt
Nam, chính quyền Khmer Đỏ, với sự bảo trợ của Trung Quốc, cũng bắt đầu leo
thang hoạt động quân sự xâm lấn miền Nam Việt Nam. Các xung đột lẻ tẻ ở
khu vực này đã nhanh chóng bùng nổ thành Chiến tranh biên giới Tây Nam với
hệ quả là Việt Nam đưa quân vào Campuchia lật đổ chính quyền diệt chủng
Khmer Đỏ. Việt Nam phải giải quyết vấn đề Campuchia, tiêu diệt Khmer Đỏ
gấp, vì tình hình căng thẳng với Trung Quốc đã rõ, lúc đó TQ đã dồn trọng
binh lên biên giới Việt - Trung, sớm muộn gì cũng sẽ có chiến tranh với
bọn bá quyền phương Bắc, nếu khi đó Khmer Đỏ chưa bị diệt thì VN sẽ lâm
vào tình thế "lưỡng đầu thọ địch", bị cô lập và dồn vào trong
thế gọng kìm. Trong lịch sử phong kiến, Lê Đại Hành, Lý Thường Kiệt đều
phải đánh Chiêm Thành trước khi đánh Tống là vì thế.
Do đó, Trung Quốc quyết định tấn công xâm
lược Việt Nam một phần là để phân chia lực lượng quân đội của Việt Nam,
giúp Khmer Đỏ, ép VN phải rút quân về hoặc điều bớt quân từ Campuchia lên Bắc
Việt phòng thủ để giảm áp lực quân sự cho dư đảng Khmer Đỏ.
Ngoài ra, theo một số nhà nghiên cứu quân sự Nga và
phương Tây, do Việt Nam gia nhập Hội đồng Tương trợ Kinh tế (SEV), và ký
hiệp ước Hữu nghị và hợp tác với Liên Xô năm 1978, trong đó có điều khoản
về tương trợ quân sự lẫn nhau. Theo nhận định của Quân ủy Trung ương Đảng
Cộng sản Trung Quốc, thỏa ước này là hiểm họa quốc phòng lớn của TQ vì đặt
nước này vàotình thế "lưỡng đầu thọ địch" khi xảy ra chiến tranh với
Việt Nam hoặc Liên Xô.
Do đó, Trung Quốc đã sắp xếp sẵn con bài
Hoàng Văn Hoan và đồng bọn, khi nào cần thì sẽ dùng danh nghĩa "diệt
Duẩn phò Hoan", "cùng nhân dân Việt Nam tiêu diệt tập đoàn Lê
Duẩn", nếu tình thế chiến sự thuận lợi thì sẽ đánh tới thủ đô Hà Nội,
và nếu chiếm được Hà Nội thì sẽ dựng lên ngụy quyền Hoàng Văn Hoan, đóng quân
lâu dài dùng chiêu bài "chống Lê Duẩn" để chống Việt Nam và xâm lược
VN lâu dài, để giữ cho Trung Quốc không bị rơi vào thế gọng kìm Xô - Việt.
Bởi nếu họ chỉ đánh rồi về, thì thế gọng kìm vẫn còn, họ vẫn "lưỡng
đầu thọ địch". Tương tự, Việt Nam muốn phá thế gọng kìm Trung Quốc - Khmer
Đỏ, không muốn bị "lưỡng đầu thọ địch" thì phải tận diệt Pol Pot
và đóng quân lâu dài để ổn định tình thế, không để dư đảng Khmer Đỏ từ
trong rừng chui ra hồi phục, "chặt đầu này mọc đầu khác".
Do đó cuộc chiến này không phải chỉ là cuộc chiến
"dạy cho Việt Nam bài học" như Đặng Tiểu Bình và Trung Quốc
tuyên truyền, không phải là một cuộc xung đột quân sự hạn chế, đánh một
chút rồi về, "trừng phạt" rồi về, quấy nhiễu rồi về, mà làmột cuộc
chiến tranh xâm lược thời đại mới, thuận theo tình hình rồi
tính, nếu thuận lợi thì sẽ chiếm đóng lâu dài, dựng lên
ngụy quyền (do Hoàng Văn Hoan đứng đầu) và thực hiện chế độ thực dân kiểu
mới. Nếu tình hình bất lợi, thì sẽ rút về rồi tuyên bố "đã trừng phạt
xong", "đã dạy xong bài học".
Như vậy thì dù kết quả cuộc chiến có thế nào thì Trung
Quốc cũng đều có thể tuyên bố "chiến thắng". Đó là lý do vì sao mà
ngay từ đầu Bộ ngoại giao Trung Quốc và Đặng Tiểu Bình lặp đi lặp
lại "dạy cho Việt Nam một bài học", "không tham vọng 1 tấc
đất nào của Việt Nam", che giấu ý đồ thật sự. Một tác dụng khác nữa
là để trấn an dư luận trong nước và thế giới và làm giảm quyết tâm bảo vệ đất
nước của quân đội VN, hy vọng một bộ phận nào đó nghe vậy sẽ an lòng, lơ
là, chủ quan, giảm bớt ý chí quyết chiến. Họ lặp đi lặp lại điều này trước cuộc chiến,
và ngay trong cuộc chiến thì họ cũng vẫn tuyên truyền như thế để hạ bớt
tinh thần chiến đấu của các chiến sĩ VN, đồng thời làm giảm thiểu sự phẫn nộ
của dư luận quốc tế, và sau cuộc chiến thì họ càng gia tăng tuyên truyền
điều này để biện hộ, bào chữa cho việc bại trận, che giấu sự thật thua
trận, và giữ lại phần nào thể diện.
Đặng Tiểu Bình và các "mưu
sĩ", "quân sư" nghĩ ra tiểu xảo này là vì họ không tự tin sẽ
chiến thắng trước Việt Nam, một quốc gia vừa mới ban cho đại cường quốc Hoa Kỳ
một thất bại chưa từng có trong lịch sử, một quân đội vừa mới thần tốc
đánh đổ chế độ diệt chủng Khmer Đỏ với khí thế "sấm chớp không kịp
bưng tai". Quan điểm chiến lược không công khai của họ là "cứ
đánh, dựa trên kết quả và tình hình thế nào rồi sẽ tính". Nếu tình hình
chiến cuộc thuận lợi thì họ sẽ tuyên bố "thay đổi kế hoạch cho phù
hợp với tình hình mới" và sẽ có hàng chục lý do, danh nghĩa, chiêu
bài chính trị khác ra đời. Nếu tình hình bất lợi thì rút quân về, tàn phá những
vùng tạm chiếm, phá hủy cơ sở hạ tầng, cướp bóc tài sản nhân dân, và
cướp được tấc đất nào hay tấc đất đó, giữ được nhiều đất đai càng tốt,
đó chính là lý do sau cuộc chiến, Trung Quốc vẫn giữ một số địa điểm
mà Việt Nam phải đánh vào trong những trận đụng độ lẻ tẻ sau này mới giành lại
được.
Về phía Liên Xô, nguy cơ bị cô lập về ngoại
giao sau khi quan hệ Trung Quốc - Hoa Kỳ trở nên nồng ấm khiến họ phải tìm
cách tăng cường quan hệ đối với ta. Viện trợ kinh tế của Liên Xô cho Việt
Nam tăng đều từ năm 1975 đến 1979, viện trợ quân sự cũng tăng mạnh do
sự kiện xung đột Việt Nam - Campuchia.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét